Văn học Phật giáo Việt Nam- một hướng tiếp cận

0
25

Nếu tính từ khi đức Phật Thích Ca bắt đầu thuyết giảng bài pháp đều tiên tại vườn Lộc Uyển  đến nay, nền văn học Phật giáo đã có lịch sử trên 2500 năm với nhiều sự thăng trầm và biến động, ngoài những tác phẩm văn học Phật giáo dân gian, văn học Phật giáo truyền miệng, với hàng vạn tác phẩm lớn nhỏ, phân làm 12 loại thể, hàm chứa những giá trị tuệ giác, nhân văn và nghệ thuật lớn. Có thể khẳng định, văn học Phật giáo là một nền văn học lớn của văn học thế giới, có vị trí xứng đáng trong kho tàng văn hóa nhân loại.

Văn học Phật giáo Việt Nam là một bộ phận của nền văn học Phật giáo thế giới, đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành quan trong của nền văn học Việt Nam; là một trong những ngọn nguồn, mạch chính khơi nguồn cho nền văn học viết, văn học bác học Việt Nam, với cảm hứng giải thoát là cảm hứng đặc trưng.  Quan điểm này được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú khẳng định một cách dứt khoát: “Văn học Phật giáo là ngọn nguồn của văn học bác học, văn học viết Việt Nam.” (Nguyễn  Công Lý – Đoàn Lê Giang chủ biên (2016), Văn học Phật giáo Việt Nam – thành tựu và định hướng nghiên cứu, Nxb KHXH, tr 27).

Hình minh họa (internet)

Ở Việt Nam, Phật giáo đã có mặt từ rất sớm, và đồng hành cùng dân tộc suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước hơn 2000 năm qua, tính từ khi đạo Phật được truyền vào mảnh đất quê hương ta, Phật giáo đã được bản địa hóa và liên tục bản địa hóa ở Việt Nam, trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Việt. Văn hóa Phật giáo là một bộ phận không thể chia cắt của văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam không chỉ mang trong mình những tinh hoa mang tính phổ quát của Phật giáo thế giới mà còn mang tính dân tộc của người Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chứng minh một cách sinh động Phật giáo đã dung hòa, nâng đỡ, góp phần xây dụng nên nền văn hóa Việt Nam có tầm vóc với những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ nghi, lễ hội đến kiến trúc, điêu khắc; từ lịch sử, tôn giáo, văn học  đến hội họa, âm nhạc, thiền đạo…Trong đó có thể thấy được văn học Phật giáo là lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu lớn, đã gắn bó mật thiết và nâng đỡ đời sống tinh thần của con người Việt Nam hơn 2000 năm qua.

Văn học Phật giáo Việt Nam, nếu tính từ tác phẩm “Lý hoặc luận” của thiền sư Mâu Bác viết khoảng những năm 196 – 198 của thế kỷ thứ II. Trong thế kỷ thứ III, có kinh Pháp Hoa tam muội do thiền sư Đạo Thanh dịch, Lục độ tập kinh, Lục độ yếu mục, Nê hoàn phạm bối, Cựu tạp thí dụ kinh…do thiền sư Tăng Hội biên dịch, biên soạn… đến đầu thế kỷ XXI đã ngót 2000 năm đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Với bề dày lịch sử như thế, từ đầu thế kỷ XX đến nay cùng với quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà, văn học Phật giáo Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu văn học nói chung, văn học Phật giáo nói riêng chú ý, đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu có chất lượng, cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Các hướng nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay

Theo các nhà nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam có uy tín hiện nay như Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, Nguyễn Huệ Chi, Huỳnh Như Phương, Đoàn Thu Vân, Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Công Lý, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Phạm Hùng… các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, thường được triển khai theo mấy hướng sau đây:

Một là hướng nghiên cứu văn học Phật giáo từ góc độ mỹ học thiền. “Dĩ thiền luận thi” (lấy thiền học, phật học để bàn luận về thi ca) đã có truyền thống lâu đời ở Phương Đông, điển hình là tác phẩm “Văn tâm điêu long” của thiền sư Tuệ Địa, tục danh Lưu Hiệp. Nghiên cứu văn học Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng từ góc độ mỹ học thiền, triết lý thiền là một hướng khả quan, nhiều triển vọng, mở ra một chân trời vô hạn cho các nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhất là các nhà nghiên cứu là thiền sư, tăng sĩ Phật giáo, trong đó có chúng tôi. Chúng tôi tạm gọi là đây hướng nghiên cứu mỹ học thiền.

Có thể kể ra, một số thành tựu, một số công trình khá tiêu biểu của hướng nghiên cứu này:

  1. Văn tâm điêu long của thiền sư Tuệ Địa (tục danh Lưu Hiệp)
  2. Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo của HT Tuệ Sỹ (bài viết)
  3. Phật học thiền học và thi ca của Thích Mãn Giác
  4. Giá trị văn học của thiền phái Trúc Lâm của TT TS Thích Phước Đạt
  5. Văn học Phật giáo Việt Nam – một hướng tiếp cận của Thích Hạnh Tuệ…

Hướng nghiên cứu mỹ học thiền là nghiên cứu cái hay, cái đẹp, giá trị của văn học Phật giáo dưới góc độ cảm quan thiền, triết lý thiền như: Giá trị giải thoát, cái đẹp của “tâm”, “vô”,  “tĩnh” “vô ngã”…

Có thể nói một chữ “vô” của mỹ học thiền mở ra một cầu trường vô biên cho những cảm hứng sáng tác, cho sự cảm thụ cái đẹp trong văn học Phật giáo

Cơ sở lý luận mỹ học thiền từ chữ “” như ta có thể thấy trong những phạm trù rất quan trọng của triết học Phật giáo:

  • “Vô” là không, là thực tính của vạn pháp, là bản chất của mọi sự vật hiện tượng.
  • “Vô thường”; “Vô ngã”….

Hai là hướng nghiên cứu tác phẩm văn học Phật giáo. Hướng này tập trung và tổng hợp được trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tuyệt tác, nhiều tác phẩm tiêu biểu văn học Phật giáo Việt Nam được nghiên cứu và giới thiệu một cách kỹ lưỡng, đạt được nhiều kết quả khả quan.

Bộ Thơ văn Lý Trần có 3 quyển là một trong những thành tựu lớn và sớm của hướng nghiên cứu này.

Bộ Tổng tập văn học Việt Nam gồm 42 quyển (giới thiệu khá đầy đủ các tác phẩm văn học Phật giáo

Ba quyển trong Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của GS Lê Mạnh Thát

Trái tim của Trúc Lâm đại sĩ của HT Nhất Hạnh

Thánh đăng lục giảng giải của HT Thanh Từ

Tam tổ thực lục của HT Phước Sơn…

Và hàng trăm nhà nghiên cứu nghiên cứu các tác phẩm văn học Phật giáo riêng biệt trong vài ba thập kỷ nay.

Ba là hướng nghiên cứu tác gia văn học Phật giáo. Cũng như hướng nghiên cứu tác phẩm văn học, hướng này được chú ý khá sớm, nhiều tác gia tiêu biểu của nền văn học Phật giáo Việt Nam được nghiên cứu và giới thiệu trong bối cảnh chung với các tác gia văn học cổ trung đại Việt Nam. Hướng nghiên cứu này cũng đã đạt được nhiều thành tựu khả quan.

Hướng nghiên cứu này, chọn các tác gia lớn, tác gia tiêu biểu của văn học Phật giáo Việt Nam nói chung, văn học Phật giáo Lý – Trần nói riêng làm đối tượng nghiên cứu

Một số công trình lớn nghiên cứu hướng này như:

Thiền sư Khương Tăng Hội của HT Nhất Hạnh

Tam tổ Trúc Lâm giảng giải của HT Thanh Từ

Toàn tập Trần Thái Tông, của GS Lê Mạnh Thát

Toàn tập Trần Nhân Tông của GS Lê Mạnh Thát

Trần Nhân Tông – thiền lạc và thi hứng của Nguyễn Kim Sơn…

Bốn là hướng nghiên cứu văn bản văn học Phật giáo. Có thể nói, đây là một hướng nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu khả quan. Song song với việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam thời cổ – trung đại, nhất là các tác phẩm viết bằng chữ Hán, chữ Nôm thời Lý – Trần, các tác phẩm văn học Phật giáo được quan tâm nghiên cứu, giới thiệu một cách đặc biệt. thành tựu nổi bậc theo hướng  này có thể kể đến nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát.

Hướng nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu văn bản tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam nói chung, văn học Phật giáo Lý – Trần nói riêng. Có thể kể vài công trình tiêu biểu:

Nghiên cứu về Mâu Tử của GS Lê Mạnh Thát

Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh  của GS Lê Mạnh Thát

Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của GS Lê Mạnh Thát…

Năm là hướng nghiên cứu diện mạo và đặc điểm văn học Phật giáo.  Hướng này được các nhà nghiên cứu triển khai từ những năm đầu của nửa sau thế kỷ XX nhằm xác định những đặc trưng riêng, của văn học Phật giáo trong một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử nhất định. Một trong những gương mặt khá tiêu biểu cho hướng này là Nguyễn Công Lý.

Công trình Văn học Phật giáo Lý – Trần – diện mạo đặc điểm của Nguyển Công Lý góp phần mở hướng cho hướng nghiên cứu này

Sáu là hướng nghiên cứu thể loại văn học Phật giáo. Hướng này gần đây được chú ý nhiều hơn, tập trung đi sâu vào khám phá những giá trị nghệ thuật của văn học Phật giáo Việt Nam, những đóng góp về mặt hình thức nghệ thuật của văn học Phật giáo vào sự phát triển của nghệ thuật ngôn từ cho nền văn học Việt Nam. Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Sơn là những nhà nghiên cứu khá ấn tượng của hướng nghiên cứu này.

Hướng này tập trung nghiên cứu văn học Phật giáo dưới quan điểm thể loại. Các công trình tiêu biểu như:

Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỷ X – XIV của Đoàn Thu Vân

Văn học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Phạm Hùng

Thể loại tác phẩm Thiền uyển tập anh của Nguyễn Hữu Sơn

Bảy là hướng nghiên cứu văn học sử Phật giáo. Đây là một trong những hướng được các nhà nghiên cứu chú ý rất sớm từ nửa đầu thế kỷ XX, lúc ấy văn học Phật giáo Việt Nam chưa được nhìn nhận như là nền văn học, một dòng văn học, một bộ phận văn học riêng biệt, nên chưa đạt được nhiều kết quả đáng kể. Cho đến nay, hướng nghiên cứu văn học sử đối với văn học Phật giáo Việt Nam chưa được đầy đủ và toàn diện, còn rất nhiều lỗ hổng, khiếm khuyết , chưa chỉ ra được vận động, phát triển, biến đổi của bản thân nó qua các lịch sử, chưa chú ý đến tính thống nhất và toàn vẹn của văn học Phật giáo Việt Nam.

Tám là hướng nghiên cứu thi pháp Văn học Phật giáo. Một trong những nhà nghiên cứu mở hướng cho hướng nghiên cứu này ở Việt Nam là GS Trần Đình Sử. Trong công trình Tuyển tập Trần Đình Sử, nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học Phật giáo được nghiên cứu dưới góc nhìn thi pháp. Đây là một hướng có nhiều triển vọng trong nghiên cứu văn học Phật giáo.

Công trình Thi pháp thơ thiền Việt Nam của Thích Hạnh Tuệ – Thích Thanh Quế cũng là những nỗ lực ban đầu cho hướng nghiên cứu này.

Từ sự khái quát về các hướng nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay kể trên, chúng ta có thể thấy được tuy mỗi hướng đều có thế mạnh riêng, sở trường riêng đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng đều là những nghiên cứu được tiến hành trong trạng thái “tĩnh”, nghiên cứu từng phần, từng bộ phận tách rời nhau, những hiện tượng biệt lập với nhau, nhất là chưa xem văn học Phật giáo Việt Nam như là một đối tượng nghiên cứu độc lập nên sự thiếu sót và phiến diện là khó tránh khỏi.

Hiện nay, trong điều kiện khá thuận lợi về nhiều mặt, để chúng ta có thể nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam được đầy đủ và toàn diện hơn, khắc phục. Nhiều công trình nghiên cứu có số lượng lớn, quy mô rộng, hình thức đa dạng, phong phú. Lực lượng tri thức trong Phật giáo và ngoài Phật giáo tham gia nghiên cứu ngày càng đông đảo và chuyên nghiệp. Văn học Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng trờ thành một đối tượng nghiên cứu độc lập của ngành nghiên cứu văn học. Phạm vi nghiên cứu được ngày càng được mở rộng hơn, đa dạng hơn từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật; từ các tác gia, tác phẩm cụ thể cho đến các khuynh hướng, các giai đoạn văn học, các vấn đề lý thuyết, lý luận. Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu câp quốc gia, các luận án, luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu văn học Phật giáo ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn.

Một vấn đề không thể không nhắc đến là không ít người nghĩ rằng, nền văn học Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng, hình như chẳng dính dáng gì đến con đường đạt đến chân lý, thành tựu trí tuệ giác ngộ, vượt thoát mọi nỗi khổ đau trong kiếp sống nhân sinh, luân hồi vô tận. Đôi khi nói còn là nguyên nhân dẫn dắt con người theo tình thường mê đắm khổ đau.

Như chúng ta biết, Phật giáo thiền tông quan niệm “Ngôn ngữ đạo đoạn”, mọi ý nghĩa của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ nghệ thuật không vượt qua giới hạn của tri thức thường nghiệm, đương nhiên không thể diễn tả trọn vẹn chân lý tuyệt đối được. Đúng là ngôn ngữ và biểu tượng trong tính ước lệ của nó, mãi mãi không thể là bản thân  của chân lý tuyệt đối đích thực nhưng có thể từ ngay nơi ngôn ngữ và biểu tượng mà thể nhập chân lý, nương nơi ngôn ngữ và biểu tượng mà trực nhận ra sự thật. Đây chính là cơ sở lý thuyết của văn học Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng. Thực tế đã chứng minh, những lời dạy của đức Phật được ghi chép lại trong kho tàng văn học kinh điển Phật giáo cũng như “ngón tay chỉ trăng” chứ không phải bản thân mặt trăng vậy.

Hình như “Các tác phẩm văn học Phật giáo đều lưu xuất từ thể tâm vi diệu, biểu hiện thành muôn hình vạn trạng hình tượng, khơi nguồn diệu dụng của tuệ giác, hóa thân thành ngôn ngữ, hình tượng, tạo nên một thế giới văn chương muôn màu muôn vẻ, vô cùng, vô tận, vi diệu và kỳ bí đầy sức tươi mới và hấp dẫn của thế giới văn học Phật giáo.” [Thích Hạnh Tuệ (2018), Văn học Phật giáo Việt Nam – một hướng tiếp cận, Nxb KHXH]

Và như thế, cánh cửa “không cửa” của thế giới văn học Phật giáo luôn chào đón tất cả mọi người bước vào thưởng thức và khám phá.

TS  Hạnh Tuệ –  TS Thanh Quế