Tụng kinh công đức vô biên

0
29
PGO -

Tụng kinh, chúng ta cũng nên trang trải tâm từ bi, mở rộng tâm hồn thương yêu những người xung quanh, thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, cả chúng sinh hữu hình lẫn vô hình.

“Tụng kinh công đức vô biên,

xin đem hồi hướng mọi miền gần xa…

Con cùng muôn loại thân sơ,

đều thành Phật đạo đến bờ an vui”.

Bài kệ này mỗi ngày chúng tôi đều được nghe ít nhất hai lần. Đây là phần hồi hướng sau mỗi thời công phu sáng chiều. Thế nhưng, dù cho có tụng đi tụng lại nhiều lần như vậy, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ ý nghĩa của bài kệ này. Nhất là câu đầu tiên của kệ “tụng kinh công đức vô biên”, cũng không ít người cảm thấy khó hiểu. Vậy câu kệ này có ý nghĩa gì? Liệu việc tụng kinh bái sám có thật sự đem lại công đức vô lượng vô biên hay không? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.

Tụng kinh giả minh Phật chi lý:

Đây là câu nói để giải thích ý nghĩa của việc tụng kinh. Tụng kinh hay đọc kinh, mục đích để giúp cho những đệ tử Phật được tiếp cận với giáo lý mà đấng Từ phụ Thích-ca đã chỉ dạy. Đức Phật đã nhập Niết-bàn cách đây hơn 26 thế kỷ, vì vậy chúng ta chỉ còn nhìn thấy hình bóng Ngài thông qua việc đọc tụng những kinh điển mà Ngài đã để lại. Tụng đọc kinh điển là bước đầu của hành giả học Phật. Người học Phật phải đi theo đúng lộ trình Tam tuệ học Văn, Tư, Tu. Bước đầu tiên Văn tuệ chính là học, đọc, tụng kinh điển và nghe pháp để hiểu được giáo lý đạo Phật. Bước thứ hai Tư tuệ, nghĩa là suy xét, quán sát những giáo lý mà mình đã học được, từ đó có thấy biết rõ về các pháp, pháp nào đúng, pháp nào chưa đúng. Những điều nào đúng đắn hợp với chân lý, với lẽ phải thì mình tin theo. Bước thứ ba Tu tuệ, có nghĩa là những điều chúng ta đã tin chắc là đúng thì mình cần phải hành trì, phải tu tập theo thì mới đạt được an lạc hạnh phúc. Như vậy, ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc tụng kinh bái sám, công phu hai thời trong chốn thiền môn. Đó chính là thềm thang cơ bản, là bước đi đầu tiên của người học Phật.

Ngoài việc tụng đọc kinh sách bằng miệng, chúng ta còn phải dùng tâm để suy tư, quán chiếu những điều mình đang đọc, đang học.

Ngoài việc tụng đọc kinh sách bằng miệng, chúng ta còn phải dùng tâm để suy tư, quán chiếu những điều mình đang đọc, đang học.

Phương pháp và lợi ích của việc tụng đọc kinh điển:

Ngoài việc tụng đọc kinh sách bằng miệng, chúng ta còn phải dùng tâm để suy tư, quán chiếu những điều mình đang đọc, đang học. Nếu tâm khẩu tương ưng (miệng đọc, tâm nghĩ tưởng) thì việc đọc kinh mới có ích lợi. Ngược lại, nếu miệng đọc kinh mà tâm buông lung phóng túng, mãi tư duy, suy nghĩ về chuyện khác, không chịu chú tâm vào bản kinh mình đang đọc thì không thể hiểu rõ ý nghĩa của lời kinh. Đã không hiểu rõ thì không thấy được đường lối mà thực hành. Từ đó, an lạc hạnh phúc không thể nào đạt được.

Nếu chúng ta nhiếp tâm vào từng câu kệ, lời kinh, từng tiếng niệm Phật thì sẽ phát sinh ra sự định tỉnh, nhờ có định mà tâm hết tán loạn. Từ đó mà phát sinh ra trí tuệ. Có trí tuệ thì có thể hóa giải được niềm đau nỗi khổ của bản thân.

Ngoài ra, trong khi lễ Phật, tụng kinh, chúng ta cũng nên trang trải tâm từ bi, mở rộng tâm hồn thương yêu những người xung quanh, thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, cả chúng sinh hữu hình lẫn vô hình. Đối với những chúng sinh vô hình, đặc biệt là những chúng sinh hiện đang còn chịu khổ trong ba đường ác, chúng ta phải thể hiện tình thương yêu đối với họ và ngưỡng nguyện đem công đức tụng kinh, lễ Phật này hồi hướng cho họ sớm thoát khỏi khổ cảnh.

Tụng kinh, chúng ta cũng nên trang trải tâm từ bi, mở rộng tâm hồn thương yêu những người xung quanh, thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, cả chúng sinh hữu hình lẫn vô hình.

Tụng kinh, chúng ta cũng nên trang trải tâm từ bi, mở rộng tâm hồn thương yêu những người xung quanh, thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, cả chúng sinh hữu hình lẫn vô hình.

 Những quan niệm sai lầm khi tụng kinh:

Có người cho rằng tụng kinh thì không có công đức, chỉ có việc làm phước, bố thí cúng dường mới có công đức. Lại có người chấp chặt vào câu “tụng kinh công đức vô biên” mà cho rằng việc tụng kinh sẽ đem lại cho họ công đức vô lượng, còn những việc làm khác thì công đức rất ít. Những người có suy nghĩ như vậy ngày đêm chú tâm vào công phu bái sám, mà không chịu làm phước. Cả hai quan niệm này đều không đúng. Chúng ta phải thực tập theo phương pháp trung đạo, quân bình cả hai việc làm phước và tu tập. Bố thí cúng dường giúp ta vun bồi phước đức; tu tập trì kinh, niệm Phật giúp ta phát sinh trí tuệ. Phước tuệ vẹn toàn thì bước đường tu học của ta mới thành tựu.

Phật giảng kinh mục đích muốn cho chúng ta học hỏi, tư duy và hành trì. Thế nhưng, có người lại suy nghĩ tụng kinh là để trả bài cho Phật, tụng kinh là để cho Phật nghe và để Phật chứng minh công đức. Đây là một quan niệm sai lầm. Chúng ta cần phải thay đổi.

Có người tụng kinh chỉ chú ý chăm chăm vào từng câu từng chữ, chứ không quan tâm vào nghiên cứu ý nghĩa của cả bài kinh. Trong hệ thống kinh điển, đặc biệt là những kinh điển Đại thừa của hệ thống Phật giáo phát triển, những kinh điển này chuyên lấy sự diễn ý. Có nghĩa là mượn hình ảnh minh họa, mượn một sự việc, hiện tượng hay ví dụ để nói lên đạo lý (kinh Pháp Hoa). Nếu chúng ta tụng đọc Đại thừa mà chỉ xét nét từng câu từng chữ, thì không thể hiểu rõ ý nghĩa của bài kinh. Từ đó, dễ đi đến hiểu lầm và hành trì sai phương pháp, sẽ rất có hại cho người học Phật chúng ta. Vì vậy khi học kinh, đặc biệt là những kinh thuộc hệ thống Đại thừa, chúng ta phải suy xét thật kỹ lưỡng, không nên chấp vào từng câu từng từ mà phải hiểu cho đến tận cùng những nghĩa lý sâu xa ẩn bên trong, mới có thể hành trì đúng phương pháp.

Câu kệ “tụng kinh công đức vô biên” là hoàn toàn chính xác.

Câu kệ “tụng kinh công đức vô biên” là hoàn toàn chính xác.

Tụng kinh công đức vô biên:

Qua đây, ta thấy rằng câu kệ “tụng kinh công đức vô biên” là hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, chúng ta cần phải hiểu rõ tụng kinh như thế nào thì mới có công đức. Tụng kinh để hiểu kinh mà hành trì đúng theo những lời Phật dạy trong kinh, thì mới mong có được công đức vô lượng vô biên. Ngược lại, tụng kinh mà hời hợt qua loa, tụng cho có, tụng để Phật nghe thì công đức không do đâu mà phát sinh ra được. Chúng tôi xin mượn một ví dụ mà đức Phật đã từng nói đến, đó là sự so sánh giữa cái vá múc canh và cái lưỡi. Cái vá múc canh dù cho có nằm trong nồi canh bao lâu đi chăng nữa, cũng không bao giờ nếm được vị canh. Ngược lại, chỉ có cái lưỡi mới nếm được vị canh. Cũng vậy, cái vá múc canh tượng trưng cho người chỉ đọc kinh điển suông mà không chịu thực hành, thì không bao giờ hưởng được pháp vị an lạc giải thoát. Còn cái lưỡi tượng trưng cho người vừa học kinh mà vừa bỏ công hành trì, thì những người như vậy mới có thể nếm được hương vị giải thoát giác ngộ.