Sống theo lời Phật: Lợi ích của hạnh thiền

0
15
PGO -

Thiền là một pháp môn tu tập rất phổ biến, không những trong đạo Phật mà còn hiện hữu trong các tôn giáo khác. Nhưng nói tới cách tu thiền niệm thân, là nói tới thiền của đạo Phật.

Trong khi quán sát sự vật, suy nghiệm chân lý, do sự chuyên nhất mà tâm thể vắng lặng và tâm dụng mạnh mẽ. Khi tâm định tĩnh thì chứng được các trạng thái thiền định từ thấp đến cao.

Trong khi quán sát sự vật, suy nghiệm chân lý, do sự chuyên nhất mà tâm thể vắng lặng và tâm dụng mạnh mẽ. Khi tâm định tĩnh thì chứng được các trạng thái thiền định từ thấp đến cao.

Trong Kinh “Thân Hành Niệm Xứ” có dạy phép tu thiền niệm thân, Phật nói tới mười công đức thiền niệm thân như sau:

01. Đối trị tham và sân.

02. Loại bỏ sợ hãi.

03. Có thể chịu đựng nóng lạnh, đói khát, côn trùng cắn nhiễu, lời nói nặng của người khác, đau đớn nơi thân.

04. Dễ dàng chứng bốn cấp thiền.

05. Có thể biến thần thông theo ý muốn.

06. Có thiên nhĩ thông, tức là có khả năng nghe những âm thanh mà tai người thường không nghe được.

07. Biết được ý nghĩ của người khác.

08. Biết được các kiếp sống của người khác.

09. Có thiên nhãn thông, tức là con mắt có thể nhìn thấy các chúng sinh trôi nổi theo nghiệp lực từ đời này qua đời khác.

10. Ngay trong đời hiện tại, đạt được tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

Trong Phật giáo, thiền không chỉ dành riêng cho giới nào, mà dành cho bất cứ ai, dù là người xuất gia hay tại gia đều có thể tu tập thiền định.

Trong Phật giáo, thiền không chỉ dành riêng cho giới nào, mà dành cho bất cứ ai, dù là người xuất gia hay tại gia đều có thể tu tập thiền định.

Lời bàn: Thiền là một pháp môn tu tập rất phổ biến, không những trong đạo Phật mà còn hiện hữu trong các tôn giáo khác. Nhưng nói tới cách tu thiền niệm thân, là nói tới thiền của đạo Phật. Trong Phật giáo, thiền không chỉ dành riêng cho giới nào, mà dành cho bất cứ ai, dù là người xuất gia hay tại gia đều có thể tu tập thiền định. Thiền có nhiều loại. Kinh A-Hàm chia ra: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.

Thiền được được gọi đầy đủ là thiền-na, dịch âm tiếng phạn Dhỳna, dịch ý tiếng Phạn Samadhi. Phạn Hán gọi chung là “thiền định”, Trung Hoa dịch là “tĩnh lự” hay “tư duy tu”, nghĩa là đình chỉ các vọng niệm để tâm chuyên chú vào một đối tượng quán sát. Trong khi quán sát sự vật, suy nghiệm chân lý, do sự chuyên nhất mà tâm thể vắng lặng và tâm dụng mạnh mẽ. Khi tâm định tĩnh thì chứng được các trạng thái thiền định từ thấp đến cao.

Trong cuộc sống, nhiều người hay lầm tưởng, cho rằng những người hành thiền là những người rất nghiêm khắc, khó tính, thoát ly những cái gì thuộc về thế giới tục này nhưng trong thực tế thì điều này không đúng.

Khi thực tập thiền quán, chúng ta sẽ đạt được niềm vui chân thật trong đời sống, hay nói khác hơn là nó mang lại cho chúng ta cuộc sống mà từ lâu ta đã lãng quên, đánh mất.

Khi thực tập thiền quán, chúng ta sẽ đạt được niềm vui chân thật trong đời sống, hay nói khác hơn là nó mang lại cho chúng ta cuộc sống mà từ lâu ta đã lãng quên, đánh mất.

Thật ra, thiền không phải là một sự cố ý thoát ly ra khỏi bể khổ của cuộc đời mà là một sự rèn luyện, một nghệ thuật sống giúp chúng ta phóng thích, chuyển hóa những đau khổ và niềm đau trong cuộc sống để được đạt đến sự an lạc, hạnh phúc ngay chính trong những điều kiện rất bình thường của cuộc đời.

Người Phật tử tại gia trong đời thường bộn rộn rất nhiều, không có thời gian để ngồi tĩnh tọa. Nhưng trong mỗi công việc hằng ngày, chúng ta hãy ý thức sự có mặt của mình trong mỗi sự việc và hành động đó với sự tỉnh thức và chánh niệm, tức là chúng ta đã thực hành thiền quán.

Khi thực tập thiền quán, chúng ta sẽ đạt được niềm vui chân thật trong đời sống, hay nói khác hơn là nó mang lại cho chúng ta cuộc sống mà từ lâu ta đã lãng quên, đánh mất. Vì vậy, thiền chính là cuộc sống của chúng ta.