Quảng Ninh: Khóa tu an lạc tháng 5 tại chùa Tiêu Dao

0
12
PGO -

Ngày 21 tháng 06 năm 2020 (nhằm ngày 01 tháng 05 năm Canh Tý), Đại Đức: Thích Tâm Tịnh – Trụ trì chùa Tiêu Dao đã thuyết giảng khóa tu 1 ngày tại chùa Tiêu Dao với đề tài: “Ý Nghĩa Của 3 Tháng An Cư – Kiết Hạ”.

Đại đức chia sẻ: Theo Bộ Luật Tư Trì Ký định nghĩa: “Lập tâm một chỗ gọi là Kiết; Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh gọi là An”. An cư cũng có nghĩa là “an kỳ tâm, cư kỳ thân”, tức thân ở yên một chỗ và tâm được an lạc, thanh tịnh gọi là an cư.

Thời Phật còn tại thế, trong thời gian ba tháng mùa mưa ở Ấn Độ thì chư Tăng không được đi hành hóa các nơi, hơn nữa do vì trong thời gian nầy các loại cây cỏ, côn trùng phát sanh, nên để đừng sát thương các vật đó, hàng đệ tử Phật thường tập trung lại một nơi, cấm túc, đặt ra quy chế tọa Thiền tu học trong suốt ba tháng an cư.

Thời gian an cư: Về thời gian An cư, thông thường phần nhiều lấy một hạ chín tuần (tức ba tháng) làm kì hạn. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển thượng phần 4, lấy ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày cuối cùng, ngày hôm sau là ngày Tự tứ; luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, thì lấy ngày 15 tháng 7 làm ngày Tự tứ. Về ngày tháng quy định thì tùy theo đất nước, khí hậu, để tiến hành an cư cho phù hợp.

Theo Tạng Luật Đại Phẩm, Đức Phật quy định có hai hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: “Tiền an cư và Hậu an cư. Tiền an cư thì nên vào nhằm ngày kế của (ngày trăng tròn), Hậu an cư thì nên vào khi (ngày trăng tròn) tháng đã trôi qua một tháng. Này các tỳ kheo, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) .

Ngày nay, truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là “An cư kiết hạ”, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày rằm tháng Bảy âm lịch, làm lễ Tự tứ và giải hạ kết thúc mùa an cư. Điều này thể hiện tính linh hoạt, tùy duyên trong Phật giáo. Tùy theo thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu và điều kiện để tiến hành an cư. Thời gian có sự sai khác nhưng nội dung và ý nghĩa an cư thì giống nhau.

Về địa điểm an cư, Luật tạng quy định, chư Tăng trong vùng phải chọn một trú xứ thích hợp để tiến hành kiết túc an cư. Trụ xứ có thể là một tu viện, tịnh xá, tịnh thất… nơi mà chư Tăng đã chỉ định và tác pháp Yết ma thành sự.

Như vậy dù kiết Hạ hay kiết Đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ kheo hay Tỳ kheo Ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắt khe này cũng chỉ vì Đức Phật muốn bảo hộ sức sống của Tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân.

Cũng như người nông phu mỗi năm phải làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng thì người nông phu sẽ bị nghèo nàn đói thiếu. Hàng xuất gia nếu không có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực hòa hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh?

Kết thúc khóa an cư là lễ Tự tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để bổ khuyết sửa chữa.

Cuối buổi giảng Đại đức nói: “Pháp chế An Cư tu học, nếu được đại chúng thực hành chí thành, đúng mức, thì đó thật là nguồn năng lực lớn lao để củng cố tinh thần hòa hợp thanh tịnh của Tăng già; trưởng dưỡng tâm bồ đề ngày càng lớn mạnh, bền chắc; giúp cho sự nghiệp nhiếp hóa chúng sinh thành tựu viên mãn. Chư vị thiện nam tín nữ cũng nương nhờ uy đức rộng lớn như biển của Đại Tăng mà tâm linh thăng tiến; nhờ tu học Phật pháp mà trí tuệ phát triển; nhờ thành tâm tu hạnh bố thí cúng dường mà phước đức sâu dầy, duyên lành đối với Phật pháp sẽ kết chặt vững bền mãi mãi về sau”.

Kết thúc buổi giảng, đại chúng vào nghi lễ: Nghi thức Sám hối – Hồng Danh Bảo Sám.

Sau đây là một số hình ảnh ghi nhận.

CTV