Phân biệt cầu an và cầu siêu trong Phật giáo

0
14

Cầu an và cầu siêu là hình thức tín ngưỡng có từ ngàn xưa, khắp nơi trên thế giới, dưới những biểu hiện khác nhau tùy theo vùng văn hóa và dân tộc. Cầu an, cầu siêu thể hiện nhu cầu, ước muốn của con người về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc ở hiện đời cũng như sau khi mất.

Việc cầu an, cầu siêu thường bị một số người cho là mê tín. Những người theo quan điểm này lý luận rằng đạo Phật chủ trương tự lực, tự giác. Hơn nữa, theo luật nhân quả thì ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng; do đó, nếu người này có thể cầu cho người kia được thì còn đâu là nhân quả?

Tuy nhiên, luật nhân quả cũng như tiến trình của nghiệp không hề đơn giản. Nó không phải là một đường thẳng; nó không rõ ràng theo kiểu một cộng một bằng hai trong toán học. Trong việc giáo hóa chúng sanh, Đức Phật tùy theo bối cảnh văn hóa hay đối tượng cụ thể mà có những bài pháp thích hợp để người nghe được lợi ích nhất. Bài pháp đó đúng với nơi này hay người này nhưng rất có thể không mấy đúng với nơi khác hay người khác. Nếu chúng ta chỉ căn cứ vào một bài kinh nào đó rồi cho đó là chân lý, là đích thị Phật pháp thì chủ quan, chưa hiểu tùy duyên thuyết pháp.

Ðạo Phật không chú trọng đến ước muốn thuần túy. Ðạo Phật chủ trương hành động thực tiễn. Mặc dù trong đạo Phật có nhiều bài kinh dạy về cách thế nào để đạt được an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống, cũng như cách tu tập để sanh về thế giới của các đức Phật, khái niệm “cầu an và cầu siêu” không những không phản ánh được điều trên mà còn có thể gây hiểu lầm rằng đạo Phật là đạo của cầu nguyện và van xin, đạo tùy vào tha lực.

Cầu an: Cầu an là dùng cầu nguyện cho người sống và mọi lãng vực trong cuộc sống. Cầu nghĩa là cầu nguyện. An là sự bình an. Thường ngày, chúng ta tụng Kinh cầu nguyện bánh xe pháp thường chuyển, mưa hòa, gió thuận, đất nước thanh bình, nhân dân an lạc. Cầu nguyện cho người khác là để mở lòng thương yêu, lòng từ bi và mở tâm hướng thiện của chính họ. Nếu người ta cầu an như vậy có tội không? Có tốt không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói rằng nếu chúng ta cầu nguyện đúng cách thì “có kết quả”. Vậy thế nào là đúng cách, ngài giải thích rằng: “Sự cầu nguyện là phải có năng lượng, tương đương với vấn đề phải có dòng điện trong đường dây điện thoại. Trong sự cầu nguyện, dòng điện đó là tình thương, là chánh niệm, là chánh định. Phải có niệm, phải có định, phải có tuệ, và phải có tình thương (tức là từ và bi), thì mới có hy vọng thành công trong sự cầu nguyện… Nếu chúng ta có năng lượng của niệm, của định, của từ, và của bi thì chúng ta có thể cầu nguyện được, và hiệu quả của sự cầu nguyện có thể tức thời, xảy ra cùng một lúc với sự cầu nguyện”.

Cầu siêu: Chữ “Siêu” có nghĩa vượt ra, vọt ra, hay thoát ra. Cầu siêu là cầu cho thân nhân quá cố của mình mau vượt ra THAM DỤC và LUYẾN ÁI, thoát ly luyến ái để vãng sinh nơi đâu đó, tùy theo sở nguyện. Cầu siêu là dùng cầu nguyện cho người mất. Cầu là cầu nguyện. Siêu là vượt thoát âm cảnh (hay nói cách khác siêu thoát thế giới vô hình).

Về vấn đề cầu siêu, trong kinh điển Nguyên thủy có câu chuyện rằng: có người đến nhờ Phật cầu nguyện cho người quá cố được siêu thoát, Phật đưa ra ví dụ rằng có người quăng bơ xuống nước rồi cầu nguyện cho nó chìm nhưng nó vẫn nổi, ngược lại, quăng đá xuống nước, dầu có cầu nguyện đến mấy thì đá vẫn chìm. Rồi Đức Phật kết luận cầu nguyện không thể thay đổi được nghiệp. Người ta hay dẫn câu chuyện trên để chứng minh rằng cầu siêu cho người đã mất là không thể, không có tác dụng gì. Mà thật sự, trong cuộc đời Đức Phật, Ngài cũng chưa cầu siêu cho ai.

Tuy nhiên, trong kinh Cúng thí người mất (Tăng chi bộ kinh), Đức Phật có dạy rằng, việc cúng thí cho người mất có lợi lạc hay không do có tương ưng hay không. Nghĩa là Đức Phật không phủ nhận hoàn toàn việc cúng cho người quá cố, nhưng tùy trường hợp. Trường hợp một người tái sinh ngay sau khi chết, như sinh vào cõi súc sinh, con người, hay chư thiên, thì việc cúng cho họ là vô ích, vì không tương ưng. Thần thức của người chết đó không còn ở đó để mà hưởng nữa. Đức Phật dạy tiếp: “Này hiền hữu, chỉ có một trường hợp duy nhất người chết có thể nhận được sự cúng cấp của người thân, đó là trường hợp người chết bị đọa làm ngạ quỷ.

Món ăn nào mà thân bằng quyến thuộc muốn hiến cúng cho họ thì họ sẽ hưởng được món đó bằng cảm nhận tâm thức. Họ sống và hiện hữu nhờ vào các cảm nhận này. Đây là trường hợp mà Như Lai gọi là có sự tương ưng”. Tuy rằng Đức Phật không đề cập đến việc cầu siêu, nhưng ta có quyền suy luận ra rằng, nếu người chết đó (tái sinh làm ngạ quỷ) có thể hưởng được thực phẩm cúng thí thì tại sao họ không thể hưởng được lời kinh tiếng kệ chứ? Nói cách khác, người sống đã có thể cúng thí thức ăn vật chất cho họ thì cũng có thể cho họ thức ăn tinh thần, tức cầu nguyện cho họ thấy biết chân lý được thảnh thơi hay siêu thoát.

Cũng như các tôn giáo hay tín ngưỡng khác, cầu an và cầu siêu dần dần được đưa vào Phật giáo như là một trong những hình thức tín ngưỡng tâm linh cần thiết, cả Phật giáo Bắc tông lẫn Phật giáo Nam tông. Ở góc độ tiêu cực mà nói thì đây chính là biểu hiện của sự yếu kém trong tu tập của tín đồ Phật giáo, cho nên mới cầu đến sự trợ giúp từ người khác. Nhưng xét ở phương diện tích cực thì cầu an, cầu siêu là biểu hiện của lòng từ bi, muốn cứu độ ngay cả những người đã lỡ tạo duyên nghiệp xấu. Trong khi cầu nguyện, điều quan trọng là phải có sự cảm thông giữa người cầu nguyện và đối tượng được cầu nguyện, trong đó sự chân thành, yêu thương và chánh niệm là cầu nối vô cùng quan trọng. Những gì Đức Phật nói dĩ nhiên là đúng, nhưng những gì Đức Phật không nói không có nghĩa là chúng không có. Cầu an cầu siêu là một trong những điều đó vậy.

Theo Thích Trung Hữu và Thích Nhật Từ

Tuệ Như