Giáo lý nuôi dưỡng tham sân si

0
1563
PGO -

1 GIÁO LÝ NUÔI DƯỠNG “THAM – SÂN – SI” Các thiền sư Phật giáo luôn nhắc nhở các đệ tử không được phát khởi vọng niệm ham muốn (tham), cho dù đó là “ham muốn được thành Phật”; không được phát khởi vọng niệm sân hận, cho dù đó là “sân hận người đã giết cha của mình”; không được phát khởi vọng niệm si mê (si), tin tưởng một cách mù quáng, cho dù đó là “tin tưởng vị thầy của mình”. Thamsân-si là ba chất độc gây đau khổ cho bản thân của chính mình và cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người Phật tử cũng còn phải thực tập để làm ngược trở lại những tiến trình của “tham-sân-si”. Thí dụ: Muốn tránh tánh tham lam (lấy vào), thì phải thực tập bố thí (cho ra); Muốn tránh “thù hận”, thì phải thực tập “hiểu và thương” bằng việc làm từ thiện; muốn tránh “si mê”, thì phải thực tập hơi thở chánh niệm, ý thức về lời nói, ý thức về việc làm, và ý thức về ý nghĩ của mình, không nghĩ về quá khứ, không mơ ước việc tương lai, sống thảnh thơi trong giây phút hiện tại, tức là sống một đời sống “tỉnh thức”. Trong cõi đời, có những giáo lý dạy con người nuôi dưỡng tham-sân-si. “Tham” được nuôi dưỡng, cho dù đó là nuôi dưỡng “sự ham muốn có nhiều người được Chúa cứu rỗi”. “Sân” được nuôi dưỡng bằng những cuộc “thánh chiến triền miên trên quả địa cầu” để cưỡng bức người khác phải vào đạo của mình. “Si” được nuôi dưỡng bằng niềm tin “mù quáng”, cho dù đó là niềm tin: “Phải thấy màu đen là màu trắng, nếu nhà thờ nói đó là màu trắng” [4]. Bất cứ một điều gì do “làm hoặc viết ra” (do thân), “nói ra” (do khẩu), hoặc “do suy tưởng” (do ý), đều ảnh hưởng tới người khác, cho dù là sự ảnh hưởng nhỏ bằng hạt bụi (vô cùng nhỏ) hoặc lớn như quả địa cầu (vô cùng lớn), mà người Phật tử thường gọi là “tương tức” hoặc “tương nhập”. Nếu hậu quả của tham-sân-si là chiếm hữu, là thù hận, là u mê, thì ngược lại của tham-sân-si là bố thí, là thương yêu, là sống tỉnh thức, rất còn thiết cho cuộc đời. 2 Bằng chứng cụ thể về tham-sân-si của Vatican là giáo chỉ Dum Diversas (1452) của giáo hoàng Pope Nicholas V về việc Vatican hợp tác với hai quốc gia Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đánh chiếm đất đai của các dân tộc không thuộc các chủng tộc Âu châu, để làm sở hữu của mình; bắt và buôn bán người của các chủng tộc không thuộc chủng tộc Âu châu làm nô lệ; tạo ra nhiều cuộc thánh chiến, và hàng loạt chiến tranh khác, giết hàng trăm triệu người trên quả địa cầu; lập ra tòa án dị giáo giết hàng trăm ngàn người không tuân theo giáo điều mê tín của họ, là những điều trái với luân lý và đạo đức. Giáo chỉ Dum Diversas viết: [1],[2],[3] “Chúng tôi cho phép quý vị [các vua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha] qua tài liệu này, với sự chấp thuận của Cơ Quan Tông Đồ của chúng tôi, quý vị được toàn quyền và được tự do xâm lược, được tự do tìm kiếm, bắt giữ, và chinh phục tất cả các dân tộc Man Di Mọi Rợ (Saracens), các dân tộc Dị giáo (Pagans), những người không tin Chúa và những kẻ thù của Chúa, ở bất cứ nơi nào, cũng như tại đế quốc của họ, tại các lãnh địa công tước của họ, lãnh địa quận của họ, tại lãnh thổ hoàng đế của họ, và tại những nơi có các tài sản khác của họ […] và quý vị được phép tước đoạt quyền làm người của họ và biến họ thành những người nô lệ vĩnh viễn”. [7] (We grant you [Kings of Spain and Portugal] by these present documents, with our Apostolic Authority, full and free permission to invade, search out, capture, and subjugate the Saracens and Pagans and any other unbelievers and enemies of Christ wherever they may be, as well as their kingdoms, duchies, counties, principalities, and other property […] and to reduce their persons into perpetual slavery). Sân hận cũng được nung nấu qua “Lời Thề Dòng Tên”: “…Con xin tuyên hứa thêm rằng con sẽ, nếu có cơ hội, gây ra và tham gia chiến tranh tàn nhẫn, bí mật hoặc công khai, chống mọi kẻ dị giáo, Tin lành và các thành viên, như con được lệnh thi hành, tận diệt chúng khỏi mặt địa cầu; và con sẽ không chừa một ai, bất kể tuổi tác, nam hay nữ hay tình trạng xã hội; và con sẽ treo cổ, thiêu sống, luộc sống, mổ bụng, siết cổ và chôn sống những kẻ dị giáo ô nhục đó, phanh bụng moi bào thai của vợ chúng và quật đầu con sơ sinh của chúng vào tường để tận diệt vĩnh viễn cái giống dân đáng ghét của chúng…” Nguồn: http://quangngai.tumblr.com/post/75492167/loi-the-cua-dong-ten Trên phương diện “Si Mê”, quy luật thứ 13, của họ đạo Dòng Tên: “…Nếu một vật gì đó có màu đen, nhưng nhà thờ nói là màu trắng, thì các con chiên phải tuyệt đối thấy đó là màu trắng” (We must see black as white, if the church say so) [4],[5]. Quy luật này đã được thực tập để tạo ra những con người cuồng tín (thấy màu đen mà tin là màu trắng là cuồng tín); là thực tập để tự lừa dối chính mình, và sau đó là lừa dối người khác (thấy màu đen mà nói là màu trắng là tự lừa dối chính mình, và sau đó là lừa dối người). Nuôi lớn “tham-sân-si” là một phương pháp mà Ca-tô giáo đã thực tập hơn 500 năm qua. 3 CÀNG ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG, THAM-SÂN-SI CÀNG LỚN MẠNH [4] Lịch sử Nhật Bản cho thấy một ví dụ gây hấn nổi bật của Vatican. Người Nhật nhận thấy thương nhân Ca-tô giáo và linh mục Ca-tô giáo làm việc cùng nhau, để cùng mở rộng lợi ích chung cho cả hai. Để đạt mục tiêu, việc mở rộng Giáo Hội Ca-tô giáo lúc nào cũng cần thiết. Lần đầu tiên tiếp xúc với Tây phương, Nhật rất háo hức trao đổi ý tưởng, như thương mại và hàng hóa. Từ cuộc đổ bộ đầu tiên của người Bồ Đào Nha vào nước Nhật, thương nhân nước ngoài được khuyến khích cập bến hải cảng Nhật. Giới chức thống trị địa phương thảo luận với nhau mở cửa Nhật Bản để thương nhân Tây Phương tới lui buôn bán. Các nhà truyền giáo cũng được tiếp đón, và đức tin Ca-tô giáo cũng được thiết lập tại vùng đất mới. Các nhà truyền giáo còn được sự bảo vệ của một lãnh chúa mạnh mẽ là Nobunaga, một nhà độc tài quân phiệt Nhật, trong thời gian từ năm 1573 tới năm 1582. Nhà độc tài này cùng lúc cũng để tâm kiểm soát sức mạnh chính trị của một phong trào quân nhân Phật Tử cùng với sự quảng đại đối với những người Ca-tô giáo mới tới. Ông khuyến khích người Ca-tô giáo, cho họ quyền truyền bá tôn giáo. Tặng họ đất ở Kyoto, và thậm chí còn hứa hẹn bảo trợ hàng năm. Chưa bao giời người Ca-tô giáo có một cơ hội lan tràn khắp Nhật Bản vậy. Hàng ngàn người đã cải đạo sang Ca-tô giáo. Nhiều trung tâm Ca-tô giáo được thiết lập và mở rộng. Có phải các nhà truyền giáo Ca-tô đã được một đặc ân giảng dạy giáo lý tôn giáo của mình một cách bình đẳng? Có phải đây là một phần thưởng tinh thần to lớn của Nhật đối với người Ca-tô giáo? Sự thật hiển nhiên cho thấy một khi người Ca-tô giáo được đặt ân để trở 4 thành một cộng đồng to lớn, Vatican bắt đầu thiết lập một hệ thống lấn lướt và thống trị bằng vũ lực. Như người ta đã thấy một cách rõ ràng, Những người Nhật cải đạo không còn là những người dân Nhật bình thường nữa, mà đã trở thành những người dân của Giáo Hoàng, dưới sự điều động của Giáo Hoàng. Khi một người Nhật đã cải đạo, sự trung thành của người ấy đối với đất nước Nhật biến mất, họ tự động trở thành những người rất nguy hiểm của đất nước Nhật Bản. Điều này rất rõ ràng và sẽ mang lại nguy hiểm nghiêm trọng cho an ninh bên trong cũng như bên ngoài Nhật Bản. Đứng về lãnh vực bên trong, Ca-tô giáo sẽ không khoan dung bất cứ một tôn giáo nào, bởi vì người Ca-tô giáo cho rằng chỉ có đạo Ca-tô là một “chánh đạo” duy nhất, tất cả các đạo khác đều là “tà đạo”. Điều này, tất nhiên sẽ đưa tới nội chiến. Đứng về phía các lĩnh vực bên ngoài, làm theo chỉ thị của các nhà truyền giáo nước ngoài, dĩ nhiên ưu tiên sẽ dành cho người nước ngoài mà không có lợi ích gì cho người bản xứ. Cùng lúc, sự xâm nhập chính trị và quân sự là một tai hoạ trong thời kỳ tìm thuộc địa của các đế quốc Âu châu. Sau nhiều năm mở rộng cửa cho các nhà truyền giáo, Nhật Bản bắt đầu nhận ra giáo hội Ca-tô không chỉ là một tôn giáo, nhưng là một quyền lực chính trị kết nối với sự mở rộng các quốc gia Ca-tô giáo như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, và một số các quốc gia Tây Phương khác. Nguyên lý bất chính của Ca-tô giáo cho rằng chỉ có Ca-tô giáo là một chánh đạo duy nhất trong khi tất cả các đạo giáo khác đều là tà đạo đã bắt đầu cho ra bông ra trái. Bất cứ nơi nào có người Nhật cải đạo rộng rãi, nơi đó có sự bất khoan dung của người Catô giáo. Bất cứ vùng nào Ca-tô giáo trở thành đa số, tín đồ Phật Giáo luôn bị họ chèn ép. Không những các chùa Phật giáo bị tẩy chay, mà còn bị đóng cửa, bị tước đoạt, hoặc bị chuyển đổi thành nhà thờ Ca-tô giáo. Có rất nhiều trường hợp người Phật tử bị ép buộc phải bỏ đạo để theo đạo Ca-tô. Nếu từ chối thì kết quả sẽ là mất tài sản, thậm chí còn mất cả tính mạng. Đối diện với các hành vi này, sự khoan dung của chính quyền Nhật cũng phải thay đổi. Ngoài việc xung đột nội bộ, các tham vọng chính trị của các đế quốc Ca-tô giáo bắt đầu trình bày thái độ không khoan dung của họ đối với chánh quyền Nhật. Vatican, vào một buổi điều trần về sự thành công của Ca-tô giáo ở một miền đất xa xôi, đã phát động kế hoạch cho một sự thống trị chính trị của họ. Như họ đã từng làm, là sử dụng các nhà truyền giáo, cùng với sức mạnh quân sự đồng minh giữa các quốc gia Ca-tô giáo. Những người có đầy nhiệt tâm mang thánh giá; đầy nhiệt tâm cho chủ quyền của Giáo Hoàng; đầy nhiệt tâm cho lợi ích thương mại; và đầy nhiệt tâm về sự chinh phục quân sự trong cùng một tàu chiến. Vatican luôn luôn theo cùng một công thức chính trị xâm nhập tôn giáo kể từ khi phát hiện ra châu Mỹ. Nhiều Giáo Hoàng, bao gồm Giáo Hoàng Leo X, đã ban bố, đã khuyến khích, mà thực ra, là hợp thức hoá các cuộc đánh chiếm thuộc địa của các đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Dẫn đầu trong số đó là Alexander VI, với các khoản tài trợ của Tây Ban Nha về “đất đai và đảo tìm thấy tại Ấn Độ, hoặc tại bất cứ nơi nào”. Nước Nhật được liệt kê là một trong những món quà của Giáo Hoàng mà Thượng Đế đã ban cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. 5 Vì vậy cho nên, khi cộng đồng Ca-tô giáo Nhật Bản trở thành mạnh mẽ, đủ để hỗ trợ quyền lực thế tục Ca-tô giáo, Vatican bước một bước đầu tiên quan trọng trong chiến thuật chính trị tầm xa, đó là sử dụng các cộng đồng Ca-tô giáo ở Nhật như là một công cụ để tiến hành chinh phục vùng đất mới. Để thực hiện chính sách này, năm 1579, Vatican gởi một nhà truyền giáo Dòng Tên (Jesuits) tên là Valignani, đến để tổ chức một loạt nhà thờ trên những hòn đảo nhỏ của Nhật. Dĩ nhiên trong thời gian thiết kế, Valignani bị theo dõi ngầm để bảo đảm việc làm thuần tuý tôn giáo. Valignani cũng được hỗ trợ của nhiều hoàng tử Nhật như Omura, Arima, Bungo … Họ lập một “tỉnh Ca-tô”, với sự trợ giúp của các sinh viên, bệnh viện, và chủng viện. Sau khi xâm nhập đủ sâu vào các lãnh vực tôn giáo, giáo dục, và các cấu trúc xã hội, Valignani bước thêm một bước thứ hai, là thuyết phục lập một phái đoàn ngoại giao chính thức tới gặp Giáo Hoàng. Khi phái đoàn trở lại Nhật năm 1590, tình hình đã thay đổi đáng kể. Hideyoshi, một lãnh chúa mới của Nhật, ý thức rất sâu sắc những tác động chính trị của Ca-tô giáo và sự liên kết của họ với các thế lực chính trị tôn giáo xa xôi Tây Phương, như là Giáo Hoàng. Ông quyết định thống nhất với Phật giáo, không phục vụ chính trị cho bất cứ một hoàng tử nào bên ngoài lãnh thổ của ông. Năm 1587, Hideyoshi viếng thăm đảo Kyushu đã ngạc nhiên thấy cộng đồng Ca-tô giáo trên đảo này đã thực hiện các cuộc đàn áp tôn giáo kinh khủng. Tàn tích của các ngôi chùa Phật Giáo và các Tượng Phật bị sứt mẻ hư hỏng ở khắp nơi. Ông thấy rất rõ người Ca-tô giáo, trên thực tế, đã buộc phải cố gắng làm cho toàn bộ hòn đảo Kyushu bị “Ca-tô hoá”. Trong cơn phẫn nộ, Hideyoshi lên án các cuộc tấn công của Ca-tô Rô-ma giáo vào Phật Giáo; sự bất khoan dung của Ca-tô Rô-ma giáo; sự liên hiệp chính trị của Ca-tô giáo với các thế lực ngoại bang; và các thực tế khác như phá hoại… rồi ông kỳ hạn cho cho người Ca-tô giáo trong vòng hai mươi ngày phải rời khỏi Nhật. Nhà thờ và tu viện của người Catô giáo tại Kyoto và Osaka được lệnh kéo sập, và quân đội cũng được gửi đến Kyushu. Tuy nhiên các biện pháp chỉ thành công có một phần vì Ca-tô giáo đã xâm nhập quá sâu vào xã hội. Năm 1614, tất cả các linh mục Ca-tô giáo nước ngoài được lệnh phải rời khỏi Nhật thêm một lần nữa. Lệnh trục xuất được ban ra bởi một vấn đề nghiêm trọng: Các nhà truyền giáo Ca-tô, bên cạnh sự bất khoan dung, đã bắt đầu mở một cuộc chiến cay đắng với nhau. Cãi cọ giữa Dòng Tên và Franciscans đã tự chia đôi cộng đồng Ca-tô giáo của họ. Hận thù đã trở thành nguy hiểm cho đến nỗi các giới chức chính quyền Nhật sợ họ sẽ dẫn đến nội chiến. Nội chiến thế nào cũng sẽ lôi kéo theo sự can thiệp quân sự của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Video: 26 Tử đạo tại Nagasaki

/a> Sự phát triển của Ca-tô Rô-ma giáo Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã có thể minh chứng nguy cơ là một thực tế. Sự xâm nhập của Franciscans đã biến Philippines thành thuộc địa năm 1593 gây cho Hideyoshi không thể ngưng báo động. Các tu sĩ dòng Francisciscans bỏ ra ngoài tai mọi thứ về việc xây dựng nhà thờ và cải đạo tại Kyoto và Osaka. Họ bất chấp các cơ quan của nhà nước Nhật Bản. Họ cãi vã và dùng bạo lực với Dòng Tên. Những điều Hideyoshi nỗ lực tìm hiểu tuy nhỏ nhưng rất đáng chú ý. 6 Năm 1596 một thuyền buồm Tây Ban Nha, chiếc San Felipe, bị đắm ngoài khơi tỉnh Tosa. Hideyoshi ra lệnh tịch thu chiếc tàu và hàng hóa trên tàu. Vì tức giận, viên đại tá hải quân Tây Ban Nha, vì muốn gây ấn tượng hoặc đe dọa các quan chức Nhật, đã đưa ra một trong nhiều cách Tây Ban Nha đã chiếm nhiều thuộc địa trên thế giới. Bằng chứng viên thuyền trưởng đưa ra, là một bản đồ của tất cả các thuộc địa do Tây Ban Nha chiếm trên thế giới. Các quan chức Nhật ngạc nhiên hỏi làm thế nào mà Tây Ban Nha đã có thể chiếm được rất nhiều đất đai ở nhiều chỗ khác nhau? Đại tá hải quân Tây Ban Nha tự hào đáp là Nhật Bản sẽ không bao giờ có thể bắt chước được, chỉ đơn giản là bởi vì Nhật Bản không có các nhà truyền giáo Ca-tô. Ông khẳng định rằng tất cả các lãnh thổ Tây Ban Nha đã được chiếm đoạt bằng cách trước nhất là gởi các nhà truyền giáo tới để cải đạo người địa phương, rồi sau đó Tây Ban Nha sẽ gởi quân tới để chiếm đất, với sự trợ giúp của các con chiên cải đạo. Khi chuyện này được báo cáo lên Hideyoshi, sự tức giận của Hideyoshi không còn có thể kềm chế được nữa. Những nghi ngờ của ông về việc sử dụng các nhà truyền giáo như là một nấc thang đầu tiên cho cuộc chinh phục thuộc địa, được xác nhận một cách trắng trợn. Ông nhận ra ngay mô hình đánh chiếm thuộc địa một cách khôn ngoan đã lọt vào bên trong chính quyền đế chế của ông. Năm 1597 cả hai dòng Francisco lẫn Dominican bị cấm. Hai mươi sáu linh mục được tập họp tại Nagasaki và bị hành quyết để tuyệt đối làm gương cho các nhà truyền giáo. Năm 1598, Hideyoshi qua đời, Ca-tô giáo được tiếp tục trở lại với các Đoàn Tông Đồ (Vigors) cho đến khi Ieyasu lên nắm quyền vào năm 1616. Ieyasu còn cấm đạo gay gắt hơn nữa. Một lần nữa, dưới triều Ieyasu, các nhà truyền giáo Ca-tô được lệnh phải rời khỏi nước Nhật, và hình phạt “chém đầu” được đưa ra cho người Nhật nào không chịu từ bỏ đạo Catô. 7 Lệnh cấm gây ra bạo động năm 1624 dưới thời Jemitsu (1623-1651), khi tất cả các thương gia và các nhà truyền giáo được lệnh lập tức rời khỏi Nhật. Các con chiên Nhật bị cấm không được đi theo các nhà truyền giáo, các thương nhân không được buôn bán với người Ca-tô giáo. Để chắc chắn rằng các chỉ dụ này được tôn trọng và tuân hành, tất cả các tàu có sức chở hơn 2500 giạ lúa (bushel) sẽ bị phá hủy. Để dập tắt đạo Ca-tô, Jemitsu ra sắc lệnh năm 1633, 1634 và năm 1637, hoàn toàn cấm tất cả các đạo nước ngoài truyền bá trên các quần đảo của Nhật. Tại thời điểm này, người Ca-tô giáo Nhật bắt đầu tổ chức phản kháng. Phản kháng bùng nổ mùa Đông năm 1637 tại Shimbara và tại các đảo nhỏ lân cận đảo Amakusa. Nơi đây toàn là người Ca-tô giáo, đa số tự nguyện vào đạo, trừ một số ít bị bắt buộc. Lãnh đạo của nhóm là các linh mục Tây phương, các cộng đồng Ca-tô giáo bắt đầu trang bị vũ khí và tổ chức thành quân đội chống lại chính quyền Nhật, bất chấp mọi hậu quả. Vì sợ người Ca-tô giáo có thể bị sử dụng như một công cụ của Tây phương xâm chiếm thuộc địa, Nhật đã đánh thuế người Ca-tô giáo tới mức tối đa mà họ không đóng nổi. Những người Dòng Tên, trong khi đó, đã chuẩn bị kháng chiến, đã thiết lập được một đội quân Ca-tô giáo 30 ngàn quân, mang các hiệu kỳ Giêsu, Maria, và St. Iago, tung bay trước đoàn quân. Họ mở cuộc tấn công ác liệt, đánh những trận đẫm máu dọc theo mũi Shimbara gần Vịnh Nagasaki. Sau khi giết chết viên thống đốc trung thành của Nhật là Shimbara, họ vào cố thủ trong các pháo đài. Nhật Hoàng yêu cầu người Tin Lành Hoà Lan cho thuê tàu lớn để đủ sức chở các khẩu pháo hạng nặng cần thiết. Người Hoà Lan đã đồng ý, và Nhật đã có thể bắn phá thành luỹ của người Ca-tô giáo cho đến khi thành luỹ bị tan hoang và tất cả những người Ca-tô giáo trong thành đều chết. Kết quả ngay lập tức là một chỉ dụ cấm đạo năm 1639: “Trong tương lai, không có một ai, khi ánh sáng mặt trời còn chiếu sáng trên thế giới, có thể lái tàu buồm tới Nhật Bản, ngay cả các sứ thần ưu tú, và tuyên bố này không bao giờ được thu hồi, kẻ vi phạm phải chết!…” Chỉ dụ bao gồm tất cả người Tây Phương ngoại trừ người Hoà Lan. Tuy nhiên, vì người Hoà Lan cũng là người đạo “Thiên Chúa”, họ bị theo dõi tối đa. Người Hoà Lan phải di chuyển trụ sở của họ đến đảo Deshima tại vịnh Nagasaki. Họ chỉ được phép đặt chân ra khỏi hòn đảo đi đến những nơi khác mỗi năm một lần. Ngoài ra, với những hạn chế bắt buộc liên quan đến các nghi lễ đạo Tin Lành, người Hoà Lan không được để các tín hữu Tin Lành cầu nguyện dưới một chủ đề Nhật Bản duy nhất. Dưới con mắt của người Nhật, các đạo giáo của người Tây phương nói chung, và đặc biệt là đạo Ca-tô nói riêng, không gì khác hơn là một công cụ chính trị và quân sự của người Tây phương để đánh chiếm thuộc địa. Khi Hoà Lan ký một hiệp ước với Nhật về thương mại gồm có bảy điều khoản, thì có đến bốn điều khoản nói về Ca-tô giáo: ●Thương mại giữa Nhật Bản và Hoà Lan là vĩnh viễn. ●Không có tàu Hoà Lan nào được chở một người đạo Ca-tô giáo của bất cứ quốc gia nào, hoặc chuyển một lá thư do người Ca-tô giáo viết. 8 ●Người Hoà Lan cần thông báo cho thống đốc Nhật bất kỳ thông tin nào về việc truyền bá đạo Ca-tô của các quốc gia ngoại quốc khi thấy cần thiết. ●Nếu người Tây Ban Nha hoặc người Bồ Đào Nha chiếm cứ đất nước của ai vì lý do tôn giáo, Hoà Lan cần thông báo cho thống đốc tại Nagasaki. Thêm vào, tất cả các sách vở của tàu Hoà Lan, đặc biệt là sách chủ đề tôn giáo, phải được niêm phong trong thùng, phải chuyển giao hết cho Nhật gìn giữ trong khi tàu bỏ neo. Người Hoà Lan, đầu tiên được cập bến bảy chuyến mỗi năm, sau đó chỉ còn một chuyến mỗi năm. Không làm gì được khi 26 người Dòng Tên bị đem ra chém đầu dưới thời Hideyoshi; không làm gì được khi pháo đài Dòng Tên bị bắn sập và tất cả các con chiên đều chết; không làm gì được sau khi Nhật đóng cửa cấm truyền đạo liên tục 200 năm, Vatican chỉ còn một cách là ôm “hận thù” trong lòng! Mối hận thù càng lúc càng tăng trưởng vì “tham-sân-si” nằm ngay trong giáo lý của họ. Khi cơ hội đến, sự trả thù của Vatican chắc chắn sẽ vô cùng tàn bạo!.. Sự tàn bạo đã tới trong Thế Chiến II khi Hoa Kỳ chế tạo được bom nguyên tử, và khi chính quyền Hoa Kỳ bị Dòng Tên xâm nhập và nắm giữ hầu hết các vị trí chính yếu và quan trọng. Martin S. Quigley, làm viêc cho cơ quan O.S.S. của Mỹ (tiền thân của CIA) sẽ hướng dẫn chúng ta khai quật tài liệu giải mật từ sách “Peace Without Hiroshima” do chính ông viết. THẾ GIAN KHÔNG CÓ HAI MẶT TRỜI [28] Thế Chiến II, năm 1943 tại Casablanca, tổng thống Franklin Roosevelt đã đổi từ ngữ “đầu hàng” thành “đầu hàng vô điều kiện” đối với Nhật. Roosevelt biết đầu hàng vô điều kiện sẽ kéo dài chiến tranh vì người Nhật có thể chiến đấu cho tới người cuối cùng. Nếu chiến tranh kéo dài, Roosevelt sẽ có cơ hội ở lại ngôi vị tổng thống lâu hơn, và có đủ thời gian để hoàn tất chế tạo ba quả bom nguyên tử đầu tiên. Thế Chiến II là một cuộc chiến mà các giáo hoàng La Mã rất sợ đánh mất thuộc địa. Bất cứ quốc gia nào là thuộc địa, như Việt Nam, cũng đều có dấu vết bàn tay của Vatican, vì quyền lợi của Vatican luôn đi đôi với các đế quốc thực dân. Đã từ lâu, Vatican áp dụng chính sách “xâm nhập tôn giáo” vào các lãnh đạo cao cấp bộ 9 máy chính quyền của các quốc gia có thế lực mạnh. Sách Vatican Assassins của Eric Jon Phelps cho biết tổng thống Rooservelt và phó tổng thống Truman, cả hai thuộc Dòng Đền Mỹ (American Shriner Freemasonry), cả hai là thành viên “Hội Đồng Dòng Tên Đối Ngoại” (Jesuits’ Council on Foreign Relations), dưới quyền của tổng giám mục Spellman và các “Knights of Malta” gồm Joseph Kennedy, J. Peter Grace, Myron C. Taylor, và Henry R. Luce [24]. Sự đòi hỏi đầu hàng vô điều kiện không những trực tiếp hăm dọa Hoàng Đế Nhật, mà còn hăm dọa đến tập tục và truyền thống Nhật. Các tham mưu Hoa Kỳ liên tục đề nghị về ba điều liên quan nhưng riêng biệt, là vị thế độc nhất của Nhật Hoàng về tôn giáo và chính trị: ●Thứ nhất, đầu hàng chỉ có thể chấp nhận nếu nhân dân Nhật được bảo đảm ngôi vị ThiênTử (Emperor-God); sẽ không bị thoái vị hoặc sẽ không bị bách hại (như bị đưa ra tòa án hoặc bị treo cổ như là một tội phạm chiến tranh, giống như các lãnh đạo của Đức). ●Thứ hai, còn quan trọng hơn nữa, các lãnh đạo Hoa Kỳ được khuyên nếu các điều kiện không được bảo đảm, người Nhật sẽ chiến đấu cho đến người cuối cùng. Rất ít các đơn vị quân đội Nhật đầu hàng trong các cuộc chiến, và đã có nhiều dữ kiện quân đội Nhật tự sát cho vinh dự của Nhật Hoàng. Quân đội Mỹ hiểu rằng nếu “bảo đảm” không được đưa ra – cho dù là đầu hàng có điều kiện hoặc không – quân đội và nhân dân Nhật sẽ chiến đấu cho tới chết. ●Thứ ba, bộ tham mưu của Roosevelt khuyên rằng vị Hoàng Đế có thể đóng vai trò chính yếu duy trì trật tự bên trong sau khi chiến tranh chấm dứt, để giúp lãnh đạo tình trạng hỗn loạn có thể xảy ra hoặc ngay cả tình trạng hỗn loạn do Cộng Sản nổi dậy. Từ ngữ “vô điều kiện” được tuyên bố một cách “tai nạn” (accidentally) của tổng thống Roosevelt tại buổi hội thảo Casablanca tháng 01.1943. Cordell Hull thì nói bắt nguồn từ một phần chiến thuật của bộ Ngoại Giao Mỹ: “Chúng ta ngạc nhiên rất nhiều, cũng như Churchill, lần đầu tiên, với sự hiện diện của thủ tướng, đã tuyên bố như vậy một cách bất thần trong một cuộc họp báo”. Kêu gọi đầu hàng là một đề tài tranh luận, không những chỉ là một giọng điệu nhượng bộ, nhưng nói một cách mỉa mai, là bởi vì nó quá bao quát. Tại Casablanca, Roosevelt cắt nghĩa đầu hàng vô điều kiện không có nghĩa là phá hoại người dân Đức, Nhật, hoặc Ý; thật ra, nó có nghĩa là phá hoại một “triết lý”, mà triết lý đó đã mang đến chiến tranh thế giới. Đe dọa phong tục và chính trị của Nhật, dĩ nhiên tương đương với đe dọa các lãnh đạo Nhật. Roosevelt còn làm cho vấn đề trở thành phức tạp hơn nữa trong buổi họp báo tại Nhà Trắng ngày 12.02.1943, ông đã khẳng định bằng cách hăm dọa cá nhân Hoàng Đế Nhật Bản: “…những điều lệ được tuyên bố tại Casablanca là đầu hàng vô điều kiện. Trong chính sách không thỏa hiệp của chúng tôi, chúng tôi muốn nói là không có gì làm hại phần đông người của các quốc gia khối Trục. Nhưng chúng tôi muốn nói để áp đặt hình phạt và báo thù đầy đủ với tội lỗi của họ, những người lãnh đạo man rợ trong khối Trục”. Đầu hàng vô điều kiện chẳng những làm “sốc” Nhật, mà còn làm giật mình rất nhiều người hiểu biết trong căn nhà lập pháp Mỹ. Nhân dân Nhật chuyển hướng nhanh chóng ủng hộ 10 chiến tranh, bằng cách tiên đoán Nhật sẽ bị san bằng sau khi “đầu hàng vô điều kiện”. Một số giới chức tại Washington đã bắt đầu tìm kiếm cách thức để thay đổi hoặc làm nhẹ đi tuyên bố. Một lý do chính yếu khác không thể thiếu sót là “thế gian không có hai mặt trời”. Nếu Giáo Hoàng tại La Mã được coi là một người trần tục đại diện cho “Thiên Chúa” (God), thì Nhật Hoàng cũng được coi là một người trần tục đại diện cho “Nữ Thần Mặt Trời” (Sun Goddess). Nếu Giáo Hoàng La Mã nắm giữ các chức vụ quan trọng và cao nhất tại tòa thánh, thì Hoàng Đế Nhật Bản cũng nắm giữ các chức vụ quan trọng và cao nhất của truyền thống Nhật Bản. Quân đội và nhân dân Nhật sẽ “tự mổ bụng” mà chết, chớ không thể chấp nhận đầu hàng “vô điều kiện”. Vô điều kiện là vô diều kiện gì? Vì lý do đó, người Nhật luôn luôn đòi hỏi, thứ nhất là “không động tới Nhật Hoàng”, thứ hai là “không chia đôi Nhật Bản”. Để trả thù một đối thủ lợi hại mà suốt bao thế kỷ qua đã làm cho Vatican phải ôm hận, Vatican đã “bí mật đày đọa Nhật” bằng hai quả bom nguyên tử trong thời gian sắp tới. Lý do đày đọa cũng để chứng minh cho giáo điều: “Ca-tô giáo là một chánh đạo duy nhất, tất cả các đạo khác đều là tà đạo” mà hiểu một cách rộng rãi hơn, là “thế gian không có hai mặt trời”. ÂM MƯU “GÀI” MỸ TUYÊN CHIẾN VỚI NHẬT Sau ngày khám phá ra Mỹ châu, phong trào ra đi tìm kiếm thuộc địa lan tràn khắp nơi trên thế giới. Tại châu Á, chỉ có Thái Lan và Nhật Bản là hai quốc gia thoát khỏi bàn tay xâm chiếm thuộc địa của các đế quốc thực dân. Thái Lan thoát khỏi bàn tay xâm chiếm thuộc địa của thực dân nhờ biết lợi dụng sức mạnh của người Tin Lành Hòa Lan chống lại sức mạnh của Ca-tô giáo Pháp [6]. Nhật thoát nạn bị xâm chiếm làm thuộc địa nhờ biết canh tân xứ sở. Nhờ sự khôn sự ngoan của Nhật Hoàng, chẳng những Nhật lẹ làng trở thành một cường quốc châu Á, mà còn lẹ làng trở thành một đế quốc xâm chiếm thuộc địa giống như các đế quốc Âu châu. Vatican cũng là một đế quốc xâm chiếm thuộc địa giống như các đế quốc khác. Tuy nhiên Vatican không trực tiếp điều khiển quân đội, mà thường gián tiếp điều khiển quân đội qua bàn tay của các quốc gia khác. Chẳng hạn như qua bàn tay của hai đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Điều này được chứng minh một cách cụ thể qua giáo chỉ Dum Diversas (1452) của giáo hoàng Pope Nicholas V cho phép hai đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban đánh chiếm đất đai của ngoại giáo (không phải Thiên Chúa giáo), và bắt người ngoại giáo làm nô lệ vĩnh viễn [7]. Nhìn sự va chạm quân đội giữa Nhật và Mỹ, và cho đó là sự va chạm quân sự thuần túy, là một sự sai lầm. Va chạm giữa Nhật và Mỹ trong trận Trân Châu Cảng, không những về phương diện quân sự, mà còn là một sự va chạm về tôn giáo. Thế Chiến II là một phần lớn “Chiến Tranh Tôn Giáo”. Với tham vọng làm bá chủ toàn cầu, Vatican đã khôn khéo và quỷ quyệt cài “Dòng Tên vào các cường quốc, rồi kích động chiến tranh giữa các cường quốc”. 11 Sau khi Nhật Hoàng Ieyasu đuổi tất cả Dòng Tên và đóng cửa Nhật 200 năm, Nhật mở cửa trở lại để canh tân dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng (Emperor Meiji). Lợi dụng sự mở rộng cửa, Dòng Tên xâm nhập trở lại vào Nhật Bản. Lần này là xâm nhập vào bộ máy chính quyền Nhật. Trong số những người Dòng Tên xâm nhập có Isoroku Yamamoto. Yamamoto được cải đạo bởi các giáo sĩ Dòng Tên năm 1893, là con của một giáo chức thuộc làng Kushigun, Sonshomura. Trưởng thành trong binh nghiệp, Yamamoto trở thành đô đốc chỉ huy hạm đội Nhật. Tổng thống Franklin Roosevelt và đô đốc Isoroku Yamamoto, cả hai đều là người Ca-tô giáo Dòng Tên[9]. Để “cài” Ca-tô giáo vào chính phủ Hoa Kỳ, tổng giám mục Francis Spellman (sau này là hồng y Francis Spellman) đã vận động tổng thống Franklin D. Roosevelt chọn Harry S. Truman làm phó tổng thống, sau cái chết của phó tổng thống Henry Agard Wallace. Tổng giám mục Francis Spellman và phó tổng thống Harry Truman, đều là những người Dòng Tên (Jesuits) trực thuộc Giáo Hoàng Đen (Black Pope)[8]. Sau này, Francis Spellman còn kèm thêm các chức vụ khác lớn hơn như: “Kiếm Khách Colombus” (Knight of Columbus); tình báo quốc tế Vatican (The American Branch of the International Intelligence Community); chi nhánh “Kiếm Khách Malta” (The American Branch of Malta); “Dòng Đền 33 Freemasony” (The American Shriner and 33rd Degree Freemasonry); “Kiếm Khách Columbus” và cũng là thành viên của đảng Mafia Mỹ (The Ameican Knights of Colombus and the American Mafia) [25]. Hoa Kỳ sau khi giành được độc lập dưới bàn tay thống trị của người Anh; và Nhật Bản sau khi hùng mạnh nhờ chính sách canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng. Cả hai đều có tham vọng tranh giành thuộc địa. Vatican “cấy” người vào bộ máy chính quyền Hoa Kỳ vì họ muốn lèo lái chính sách thực dân của Hoa Kỳ, giống như Vatican đã từng lèo lái hai đế quốc thực dân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong các thế kỷ thứ XVI, XVII, và XVIII. Mùa Xuân năm 1941, Hitler sẵn sàng tấn công Liên-Xô. Theo kế hoạch, Hitler sẽ tấn công 12 Liên-Xô từ hướng Tây và Nhật sẽ tấn công Liên-Xô từ hướng Đông. Tuy nhiên Nhật e ngại vì đã kinh nghiệm đụng độ với Hồng Quân (Red Army) của Liên-Xô tại Mãn Châu tháng 08.1939. Roosevelt rất “giận” vì Nhật không tấn công Liên-Xô (Roosevelt và Yamamoto thuộc phe Vatican). Sợ Hitler bị đè bẹp và bại trận, Roosevelt đã điều động Yamamoto tới tấn công Mỹ tại Trân Châu Cảng, được che đậy dưới hình thức tranh giành thuộc địa giữa Mỹ và Nhật. Hạm đội Mỹ đang đóng tại California, được Roosevelt điều động tới giữ Trân Châu Cảng [9]. Martin Quigley, nhân viên cơ quan O.S.S. Thế Chiến II (tiền thân của CIA ngày nay), cho biết “Morse Code” (điện tín) được quân đội sử dụng trong Thế Chiến II thay cho máy “radio” (vô tuyến điện), để tránh tiết lộ bí mật. Các cường quốc trong Thế Chiến II đều chế tạo riêng cho mình một bộ “code” (tín hiệu). Cho dù các quốc gia địch thủ có khả năng “gài nạp” (intercept) được các tín hiệu đó, họ cũng rất khó khăn, hoặc không có cách nào “decode” (giải mã) được các tín hiệu để có thể hiểu được bức điện tín nói gì. Vào Thế Chiến II, điều này không đúng đối với Mỹ. Mỹ đã chế tạo được máy “giải mã” các bức điện tín của Nhật, và đã có thể “gài nạp” được các điện tín của Nhật; và Mỹ cũng đã có thể giải mã các tín hiệu của Nhật mà Nhật đã không hề hay biết. Mỹ tuyệt đối giấu nhẹm khả năng này. Vì lẽ đó, khi các tín hiệu từ các chiến hạm của Yamamoto phát đi, tổng thống Roosevelt đều gài nạp được và biết rất chính xác mọi cử động hạm đội của Yamamoto [30]. Yamamoto tấn công Trân Châu Cảng là do “ăn ý” với Roosevelt. Theo nhà truyền giáo Baptist Nhật Daniel Fuji, nói dự án tấn công của Nhật là để ngăn chận, mà người Nhật gọi là ngăn chận “A, B, C, D line” (đường dây American, Bristish, Canadian, Dutch), cắt đứt chuyển vận dầu xăng quốc tế. Kế hoạch này cả quốc tế điều biết từ lâu, và dĩ nhiên Roosevelt cũng biết, nhưng Roosevelt không làm gì cả khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Roosevelt biết mọi cử động của Yamamoto vì tất cả các tín hiệu của Yamamoto đều bị Mỹ giải mã. Báo cáo của đề đốc Husband Kimmel, tư lệnh hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng: “Chúng tôi không sẵn sàng bởi vì dự án của tổng thống không cho phép chúng tôi báo động!” Theo Vatican Assassins, đây là ý muốn của Vatican. Vatican tạo lý do thúc đẩy quốc hội Mỹ phải chấp thuận “Mỹ tuyên chiến với Nhật” mà Nhật gọi là một “tai biến” cho Nhật (xem video “The Road to war – Japan”) [25]. Trước Thế Chiến Thứ II, Hawaii thuộc chủ quyền của các cư dân trên đảo. Hawaii bị nhiều đế quốc thực dân dòm ngó, trong đó có Mỹ và Nhật. Cả hai Mỹ và Nhật đều cổ động di dân tới Hawaii để chuẩn bị cho một cuộc tranh dành thuộc địa. Mỹ thương thuyết với chúa đảo Hawaii, để hạm đội Thái Bình Dương vào Trân Châu Cảng, viện lý do bảo vệ ngư dân Mỹ đánh cá voi. Ngày 07.12.1941, lúc đó Nhật đã đảo chánh Pháp tại Đông Dương và Pháp cũng đã bị Đức đánh bại tại Âu châu, 88 phi cơ Nhật, cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhứt, và hàng trăm chiếc khác từ các hạm đội Nhật, thình lình tấn công Trân Châu Cảng, làm nhiều chiến hạm của Mỹ bị chìm, bị hư, hơn 3 ngàn người chết và bị thương. Sau trận Trân Châu Cảng, Roosevelt (người của Vatican) thúc giục quốc hội Mỹ tuyên bố tham chiến đứng về phe Đồng Minh. Đô đốc Yamamoto thì kêu gọi Nhật Hoàng dùng Đông Dương làm bàn đạp tấn công Mã Lai, Singapore, Borneo, Miến Điện, và Phi Luật Tân. Sài Gòn trở thành đại bản doanh Bộ Tư Lệnh Đông Nam Á của Nhật [26]. Trên thực tế, Mỹ và Nhật 13 đánh nhau, Vatican thắng! Video: Trận Trân Châu Cảng
/a> BOM NGUYÊN TỬ: CON ĐƯỜNG MỘT CHIỀU Thập niên 1930s, một số các nhà khoa học của Đức và Nhật có ý định hợp tác chế tạo bom nguyên tử. Tuy nhiên chính phủ của cả hai quốc gia này đều ngăn cấm. Hitler nói ông sẽ tuyệt đối ngăn cấm bất cứ khoa học gia Đức nào nghiên cứu về việc làm “bất nhân” này. Nhật Hoàng cũng cho các khoa học gia của ông biết ông sẽ không bao giờ chấp nhận một loại vũ khí như vậy. Thời gian đó tại Mỹ, chưa có ai nghiên cứu về bom nguyên tử. Các khoa học gia “bất bình” của Đức liên lạc với bạn bè tại Mỹ, và được cho biết chính phủ Mỹ có thể yểm trợ cho việc làm đó (Mỹ còn trung lập). Dưới sự trợ giúp của Don Bayer, các khoa học gia Đức được tiếp đón di dân sang định cư tại Mỹ. Năm 1939, ba nhà bác học Đức hợp tác với Albert Einstein, được Einstein viết thư giới thiệu gặp tổng thống Franklin Roosevelt tại Bạch Cung [19]. Các khoa học gia Mỹ bắt đầu nghiên cứu bom nguyên tử từ năm 1939, nhưng cho tới ngày 13.08.1942, đề án Manhattan mới được khởi sự. Sau khi khởi sự, hai phương pháp chế tạo bom nguyên tử khác nhau được sử dụng: “gun-type fission weapon Little Boy” và “implosion-type Fat Man”. Đề án Manhattan có sự hỗ trợ của Anh và Canada. Đứng đầu là trung tướng Leslie Groves chỉ huy “Đoàn Kỹ Sư Lục Quân Mỹ” (U.S. Army Corps of Engineers). Vì đề án phát xuất tại thành phố Mahattan, do đó đề án có tên “Manhattan Project”. Đề án được bắt đầu bằng 130 ngàn nhân công, với chi phí 2 tỉ Mỹ kim (tương đương với 26 tỉ Mỹ kim năm 2013). Hơn 90% phí tổn là để xây cất các cơ xưởng và sản xuất nhiên liệu. Dưới 10% phí tổn cho sản xuất, phát triển, nghiên cứu … với hơn 30 địa điểm trên lục địa Mỹ, Canada, và Anh. Sau khi hoàn tất chế tạo, loại “gun-type” trở nên phức tạp và bị ngưng sản xuất; loại “implosion-type” được chế tạo tiếp tục. Đề án thâu thập và sử dụng tin tức tình báo từ đề án năng lượng nguyên tử của Đức. Qua trung gian Chiến Dịch ALSOS (Operation Alsos). Đề án thực hiện tại Âu châu, thỉnh thoảng chỉ sát bên ranh giới Đức, nơi thu thập nhiên liệu, tài liệu, và tập trung các nhà khoa học Đức. Đề án Manhattan được dấu kín đối với Liên-Xô, nhưng gián điệp Liên-Xô vẫn khám phá được. Quả bom thứ nhất “implosion-type Fat Man” được đem ra thí nghiệm tại “Trinity Test”, một mật danh của địa điểm chế tạo, ngày 16.07.1945. Trinity test tọa lạc tại một địa điểm tại tiểu bang New Mexico có tên là Alamogordo Bombing and Gunnery Range. Quả bom thứ hai thuộc loại “gun-type weapon Little Boy”, và quả bom thứ ba là “implosion-type Fat Man”. Sau ba hoặc bốn quả bom đầu tiên, đề án Manhattan tiếp tục thử nghiệm các bom nguyên tử khác tại Bikini Atoll là một phần của chiến dịch Operation Crossroads, phát triển vũ khí mới, nâng cao mạng lưới phòng thí nghiệm quốc gia (national laboratories), tiếp tục nghiên 14 cứu, điều khiển, và sản xuất vũ khí nguyên tử cho đến khi “Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử Mỹ” (United States Atomic Energy Commission) được thành lập tháng 12.1947 [10]. Khi ngã về phe Đồng Minh chống lại khối trục, Mỹ có ý định chạy đua với Đức, vì Đức lúc này cũng đang chế tạo bom nguyên tử. Roosevelt tin tưởng Đức và Mỹ, quốc gia nào thành công trước, thì quốc gia đó sẽ là bên thắng cuộc. Điều này là đúng, vì người thua cuộc sẽ luôn bị đè bẹp, không còn cựa quậy. Tuy nhiên tình hình chiến sự luôn thay đổi. Thời gian trôi qua, tại Âu châu, cả hai Đức và Ý đều đầu hàng. Á châu chỉ còn lại Nhật. Không thể nào thả bom nguyên tử xuống Đức và Ý, bom nguyên tử vì vậy được chuyển hướng từ Đức và Ý sang Nhật. Hình quả bom nguyên tử (implosion-type) cho thấy sức tàn phá kinh khủng của nó là do hai đợt nổ. Đợt nổ thứ nhất từ ngoài vào trong, tạo thành một áp suất khủng khiếp nén vào và kích thích trung tâm hạt nhân (neutron initiator). Ngay tức khắc, đợt nổ thứ hai nổ từ trung tâm hạt nhân (kích thích do đợt nổ từ bên ngoài), tạo thành một áp lực từ trong ra ngoài còn khủng khiếp hơn nữa. Áp suất khổng lồ và năng lượng tỏa ra biến quả bom trở thành một khối chất lỏng có nhiệt độ cao hơn sức nóng của trung tâm mặt trời. Khối năng lượng này tạo thành một luồng gió phóng ra chung quanh với vận tốc khủng khiếp. Luồng không khí này có thể cắt đứt cả sắt thép, vì vậy cơ thể con người không còn nghĩa lý đối 15 với bom nguyên tử (xem thêm bài nói về luồng không khí của “plastic bomb” do gián điệp Vatican chế tạo, đã cắt đầu một trong 8 em Phật tử chết trước đài phát thanh Huế năm 1963, bài cùng tác giả) [20]. Trong thời gian chế tạo bom nguyên tử, ngày 18.02.1945, Roosevelt có cuộc họp với các đại sứ Mỹ tại Anh, Pháp, và Ý. Kế đó ông tham gia cuộc họp tại Yalta. Tại Yalta Lord Moran, một y sĩ của Winston Churchill, cho biết sức khỏe của Roosevelt rất yếu kém và có thể chết. Khi trở lại Mỹ, Roosevelt mở cuộc họp với quốc hội ngày 01.03.1945. Rất nhiều người bị “sock” vì thấy ông đã già, ốm yếu và mảnh khảnh, có y sĩ bên cạnh. Ông mở đầu bằng câu xin lỗi vì phải ngồi ghế để nói chuyện. Ông quả quyết là “Buổi họp Crimean phải tuyên bố chấm dứt hệ thống hành động độc quyền, chia rẽ đồng minh, phân chia ảnh hưởng, cân bằng quyền lực, và tất cả các thứ khác, đã cố gắng hàng thế kỷ qua – nhưng luôn thất bại. Chúng ta phải đề nghị để thay thế những thứ này, bằng một tổ chức quốc tế, mà trong đó tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình, cuối cùng có được một cơ hội tham dự” [13]. Ngoài ra, Roosevelt còn có ý định chấm dứt chính sách thuộc địa tại Đông Dương sau Thế Chiến II. Tuy nhiên, sau khi Roosevelt chết, Truman đã đảo ngược lại tất cả để đi theo chủ nghĩa thống trị toàn cầu của Wells. Ký giả Stanley Karnow viết: “Tháng 05.1945, không bao lâu sau khi Tổng Thống Franklin D. Roosevelt chết, Phó Tổng Thống Harry Truman lên thay. Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Edward R. Stettinius xác nhận với Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp, Georges Bidault, là Mỹ nhìn nhận chủ quyền của Pháp trên bán đảo Đông Dương” [14]. Lúc 3:35 giờ chiều ngày 29.03.1945, Roosevelt trút hơi thở cuối cùng sau một cơn đau đầu khốc liệt. Ông chết để lại một “di sản hòa bình” mà quốc gia nào cũng có quyền tham dự, là bước đầu của “Tổ Chức Liên Hiệp Quốc”. Tổ chức Liên Hiệp Quốc thành hình trước khi tư tưởng H. G. Wells thành hình, đã tránh khỏi tệ trạng một quốc gia duy nhất, một tôn giáo duy nhất thống trị toàn cầu, độc tài, và “ấu dâm…” [21] Nếu thế hệ sau có sự thức tỉnh của tổng thống Kennedy, thì thế hệ trước đã có sự thức tỉnh của tổng thống Roosevelt. Nếu thế hệ sau có phó thống Lyndon Johnson đảo ngược những dự tính hòa bình của tổng thống Kennedy, thì thế hệ trước cũng đã có tổng thống Harry Truman đảo ngược những dự tính hòa bình của tổng thống Franklin Roosevelt [8]. Có phải chăng lịch sử chỉ là một trò tái diễn liên tục [13]? Chế tạo bom nguyên tử là đi vào con đường một chiều. Đã bước chân vào thì phải luôn luôn đi tới. BANG GIAO NHẬT BẢN – VATICAN [15],[16] Sau một thời gian trao đổi tin tức tình báo trong khối Trục, Nhật hiểu rõ Vatican hơn trên chính trường quốc tế, hiểu rõ hơn vai trò của Vatican trong Thế Chiến II. Sau trận Trân Châu Cảng, Nhật lập tức tìm kiếm con đường hòa bình với Mỹ. Nhật đã tìm được một người Ca-tô giáo làm đại sứ tại Vatican (đây là lối hành xử khôn ngoan của Nhật. Cũng giống như vậy, Hồ Chí Minh, sau khi tiếp thu Hà Nội, cũng chọn ngay một số linh mục Ca-tô làm cố vấn cho ông, không để họ ở không). Đại sứ đầu tiên của Nhật tại Vatican là Ken Harada [15]. Bang giao với Vatican, Nhật hy vọng sẽ gỡ được thế kẹt trong vụ Trân 16 Châu Cảng với Mỹ. Vatican rất dễ dàng chấp nhận bất cứ quốc gia nào muốn thiết lập bang giao. Nhiều đại sứ quán trên thế giới tập trung tại Vatican tạo thành “một cái chợ” đại sứ quán. Hoạt động gián điệp săn bắt tin tức cũng rất thuận tiện cho cả hai phe, bạn và thù, và cho ngay cả cho Vatican. Muốn trở thành một cường quốc Thế Chiến Thứ II, và giải quyết vụ Trân Châu Cảng, Nhật không thể bỏ sót cơ hội. Sứ quán tại Vatican cũng là một tiền đồn săn tin tình báo. Thương thuyết giữa Vatican và các đại diện Nhật tìm kiếm liên hệ xảy ra khá lâu. Vì chiến tranh tiếp diễn, Nhật bắt buộc phải tìm một tiền đồn để nghe ngóng và thu thập tin tức. Những người Nhật cư ngụ tại Vatican City trong thời gian này là các thành viên của một nhóm đại diện Nhật tại tòa thánh. Khi tòa thánh và Nhật bang giao, Thế Chiến Thứ II đã kéo dài ba năm. Khi Mỹ sắp thả bom ngyên tử, Vatican là nơi duy nhất cho đàm phán hòa bình. Với vị trí của mình tại Vatican, Harada đã cố gắng tìm kiếm biện pháp để cho Nhật đầu hàng càng sớm càng tốt, ít nhất là trong mùa Xuân 1945, và do đó Nhật sẽ có thể tránh được hai quả bom nguyên tử. Trong chiều hướng đó, Harada tìm cách thuyết phục Giáo Hoàng chiêm nghiệm về một giải pháp có thể giúp cả hai quốc gia, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Phụ tá cho Harada là Kanayama, làm việc bên cạnh Harada tại Vatican từ năm 1942-1945. Sau Thế Chiến II, Kanayama nối tiếp Harada với chức vụ “Minister Chargé d’Affirs” tại Vatican, và lưu lại Vatican cho tới năm 1952. Sau khi về hưu năm 1972, Kanayama vẫn hoạt động trong các lãnh vực sưu khảo. Kanayama chết năm 1997, được an táng tại một nghĩa trang Ca-tô giáo gần Seoul. Trong thời gian vận động tránh bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki, đại sứ Harada theo dõi và biết được những thủ đoạn của Vatican. Vatican kích động Mỹ gây chiến với Nhật qua người của Vatican là các tướng lãnh Mỹ như Leahy, Groves, và Byrnes, cùng lúc Vatican cũng vận động giúp đỡ Nhật đầu hàng. Harada đã gởi một số tín hiệu mật tới 17 Tokyo qua đài phát thanh Vatican. Martin S. Quigley làm việc cho mật vụ của “Office of Strategic Service, O.S.S” (tiền thân của CIA) của Mỹ, được thành lập do William (Wild Bill) Donovan. Quigley đã tiếp xúc với “Sứ Thần Thánh Cha Nhật Bản (Japanese Papal ambassador) về việc thương thuyết đầu hàng của Nhật Bản. Quigley cũng làm việc với một số thành viên cao cấp trong tòa tổng giám mục bao gồm Monsignor Ottaviani, sau này Monsignor Ottaviani trở thành Hồng Y Ottaviani. Tin tức của Harada được gởi đi qua trung gian đài phát thanh Vatican tới Thụy Sĩ, rồi được chuyển từ Thụy Sỉ tới Tokyo. Vì có khả năng giải mã, Mỹ đã “gài nạp” các điện tín của Harada. Điện tín được chuyển ngữ và được đọc tại Washington ngày hôm sau. Qua đường dây này Harada cố ý cho Vatican đọc (nhưng lại trở thành cho Mỹ đọc). Với tư cách là một tổ chức tôn giáo, Nhật hy vọng Vatican sẽ có một chút ít “nhân đạo”. Nhưng Harada đã hoàn toàn thất bại và sai lầm. Đối với Vatican, “God” chỉ có thể nổi cơn thịnh nộ và trừng phạt những giống người Á châu vì họ là người “Man Di Mọi Rợ”, hoặc “Pagans” (đọc Lời Thề Dòng Tên). Một đoạn trong sách “Peace Without Hiroshima của Martin S. Quigley” viết: “Tại thời điểm đài phát thanh Vatican hoạt động với những dụng cụ cũ kỹ nhiều năm trước chiến tranh. Dụng cụ này không đủ mạnh để phát sóng tới Tokyo. Người Nhật, dĩ nhiên biết điều đó. Mặc dù họ đang dùng hệ thống phát thanh tân thời và cực mạnh tại tòa đại sứ của họ tại Berne, Thụy Sĩ. Họ đã không chuyển tiếp tin tức của họ tại Thụy Sĩ, nhưng đã chuyển tiếp tại Thụy Điển và Tây Ban Nha, cũng như đã chuyển tin tức của họ ngay từ Vatican” [29]. The American Pope của John Cooney đã dành trọn một chương dài nói về vai trò và mục đích của Vatican cùng lúc bang giao với hai quốc gia thù nghịch nhau, là Mỹ và Nhật Bản: Spellman trở thành chú ý tới các thỏa thuận giữa Vatican và Nhật chỉ một ngày trước khi thỏa thuận với Roosevelt khi ông nhận được một bản ghi nhớ từ Rome nêu ra những lý do cho sự tranh cãi: … sự hiện diện tại Vatican của các quốc gia hiếu chiến khác nhau đang có chiến tranh với nhau, đã không giảm mà còn nhấn mạnh tính khách quan chặt chẽ của Tòa Thánh. Như Spellman đã nhận ra, hành động của ông chỉ có thể gây đắng cay cho người Mỹ nói chung và cho Roosevelt nói riêng. Ngày hôm sau, Spellman nhận được thư bày tỏ sự ghê tởm của tổng thống Roosevelt. Roosevelt nói: “Một lỗi lầm của bản án đã được thực hiện …” phải có vài chục cách trì hoãn hành động, do một lý do khác vào thời điểm này. Tổng thống mệt mỏi kết luận, “Tôi sẽ không nói gì chính thức, trong tất cả những gì đã xảy ra, nhưng trái tim tôi bị giằng xé bởi vì nó bị ràng buộc để thoát ra bên ngoài, và chắc chắn là một hành động xấu với động thái không cần thiết. Trái tim của Spellman cũng bị xé nát. Ở giai đoạn này của cuộc đời, ông đã trải qua những ngày đất nước và Giáo Hội xứng đáng với nhau. Trong khi nhìn nhau trong nghi ngờ, tổng giám mục New York cần có sự cân bằng giữa hai bên. Mặc dù tức giận, Roosevelt đã không làm phật lòng Spellman. Cho đến giờ phút đó, tổng giám mục là một trong những người nẩy lửa hạng nhất về chiến tranh. Roosevelt không 18 thể đổ lỗi cho Spellman vô cảm về chính trị Vatican. Chỉ mùa thu năm trước, Spellman đã đi ngược lại những người biệt lập trong hệ thống phân cấp. Và một cách mãnh liệt, hỗ trợ dự thảo quân sự gây tranh cãi của Roosevelt. Vào đêm trước của các dự thảo đầu tiên để chọn lọc, tổng thống đã một lần nữa thực hiện chuyến đi đến Fordham, nơi ông xem xét các đơn vị ROTC với Spellman. Khi Roosevelt kéo trúng con số “SSS” đầu tiên vào ngày hôm sau, ông đọc một tin nhắn từ một giáo sĩ Do Thái, một bộ trưởng, và cũng là một linh mục, tuyên bố Ca-tô giáo – Spellman – là quân đội số một: “Tôi tin tưởng tốt hơn là được bảo vệ nhưng không cần bảo vệ, hơn là cần bảo vệ nhưng không được bảo vệ”. “Chúng tôi không còn có thể bị mù quáng mà không thể nhìn thấy, hoặc làm con đà điểu không dám nhìn sự thật… Người Mỹ chúng tôi muốn hòa bình, và chúng tôi đã chuẩn bị cho một nền hòa bình, nhưng không phải một nền hòa bình có nghĩa là làm nô lệ hoặc có nghĩa là chết” [31]. Đây là câu nói “thức tỉnh” đầu tiên của tổng thống Franklin Roosevelt khi thấy được chiều sâu thâm độc của Vatican? Không may Roosevelt đột ngột chết mà không rõ nguyên do. Sau cái chết của tổng thống Roosevelt, phó tổng thống Harry Truman lên thay. Là người ủng hộ tư tưởng Wells, Truman đã trì hoãn Liên-Xô vào hải phận Thái Bình Dương. Mặc dù tướng Mac Arthur Douglas, tư lệnh Thái Bình Dương, năm ngày trước khi bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, đã gởi tướng George Kenney tới Washington, cắt nghĩa cho Washington biết là “Nhật Bản đang muốn được đầu hàng”! Sau này, Kenney báo cáo cho tướng MacArthur, là ông đã không thành công thuyết phục tổng thống Harry Truman. Tướng MacArthur, cho tới ngày chết, luôn luôn phản bác lại việc tổng thống Harry Truman, một con chiên “Ca-tô Rô-ma giáo Dòng Tên”, thuộc hạng cao cấp “American Shriner Freemasons”, ra lệnh thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Trong khi đó thì tướng Mac Arthur đã nói một cách thẳng thừng: “Bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki không có một giá trị quân sự gì cả”! BIỆN LUẬN CHO CHỦ THUYẾT “THỐNG TRỊ TOÀN CẦU” Ngày 16.07.1945, quả bom nguyên tử thứ nhất Fat Man được đem ra thử nghiệm thành công tại một địa điểm bí mật có tên là Trinity, thuộc tiểu bang New Mexico. Hai quả bom còn lại, một quả Little Boy đã sẳn sàng, và một quả Fat Man sắp xong, sẽ được đem ra sử dụng. Với sự thành công thử nghiệm quả bom nguyên tử đầu tiên, vấn đề kế tiếp là làm sao để sử dụng những quả bom nguyên tử còn lại – và nếu đem ra sử dụng, thì ai là con dê tế thần? Đức Quốc Xã và Ý đã đầu hàng là một thực tế, còn lại chỉ có một mình Nhật Bản. Nhưng nếu lỡ Nhật Bản cũng đầu hàng nữa thì sao? Tất cả những câu hỏi này cho thấy những gì Truman sẽ làm. Mà những gì Truman sẽ làm tức là Vatican sẽ làm, vì Truman chính là Vatican, và Vatican cũng chính là Truman. Thử nghiệm bom nguyên tử trong trường hợp thực tế (real-time) mà Nhật Bản là con dê tế thần là một cơ hội chưa bao giờ có, là một cơ hội ngàn năm một thuở trả thù Nhật Bản dưới thời Nhật Hoàng Ieyasu đối với Dòng Tên. 19 Vì thế, kéo dài thời gian không cho Nhật đầu hàng càng lâu chừng nào thì càng tốt chừng nấy. Sự tàn phá và chết chóc với một số lượng khổng lồ sẽ góp phần để cho thế giới nhìn thấy “Vatican” là vô địch, là kẻ xứng đáng chế ngự thế giới qua lý thuyết của Wells [11]. Năm 1928, H. G. Wells (1866-1946) cho xuất bản sách “The Open Conspiracy” (Âm Mưu Không Che Đậy), chủ trương “phe thắng cuộc” trong Thế Chiến II phải làm thế nào để biến thế giới thành một quốc gia duy nhất để cai trị. Wells biện luận như vậy vì ông nghĩ, thế giới, một lúc nào đó sẽ đưa nhân loại tới hố sâu diệt chủng. Chính Wells cũng thấy tư tưởng của ông là một tư tưởng “độc tài”, tuy nhiên nếu được thực hiện, nó có thể cứu thế giới. Khi địa bàn tấn công bom nguyên tử bị thay đổi từ Đức sang Nhật, tư tưởng của Wells trở thành tư tưởng “Thống Trị Thế Giới” của Vatican. Wells biện luận: “Thế giới ngày nay chỉ có hai lựa chọn: Hoặc là hòa bình, hoặc là nền văn minh nhân loại sẽ phải chấm dứt. Để có hòa bình, thì nhất định phải cần đến một quyền lực quốc tế độc nhất có độc quyền chế tạo bom nguyên tử. Tất cả các nguồn cung cấp Uranium và sự gìn giữ hòa bình trên thế giới đều phải do quyền lực này nắm giữ, bằng sức mạnh quân sự, hoặc bằng ngay cả sức mạnh bom nguyên tử. Các quốc gia có bom nguyên tử trên thế giới phải giao nạp tất cả các bom nguyên tử cho quyền lực này, và mọi việc chế tạo phải được chấm dứt. Dĩ nhiên quyền lực tuyệt đối này có đủ sức mạnh để không ai có thể chống đối lại. Và nếu có ai dám chống đối lại, thì cũng sẽ bị tiêu diệt một cách dễ dàng”. Mới nghe qua lý luận của Wells, chưa hẳn ai cũng là người chống đối. Nhìn sâu hơn lý luận của Wells, thì đây là lý luận cho nền hòa bình của địa cầu, hay là lý luận để thống trị địa cầu? Người ta thường nói tới một “Một Trật Tự Mới Cho Thế Giới” (New World Order). Trong trật tự mới này, người ta thường nói tới một quốc gia duy nhất là quốc gia “Vatican”; một tôn giáo duy nhất là “Ca-tô Rô-ma giáo” [Phát xuất từ câu: “Ca-tô giáo là một chánh đạo duy nhất, tất cả các tôn giáo khác đều là tà đạo, là đạo thờ ma thờ quỷ]. Vì vậy, đâu là nơi phát xuất tư tưởng “Thống Trị Thế Giới?” [11] Khi mặt trận Âu châu tới hồi khốc liệt, Mỹ nghĩ tới bước thứ hai là mặt trận Thái Bình 20 Dương đối đầu với Nhật. Để sử dụng một một loại máy bay lớn có thể chở được quả bom nguyên tử từ đất liền bay tới và thả xuống Nhật, rồi từ Nhật bay về, mà chiếc máy bay đó vẫn còn đủ nhiên liệu để hạ cánh, là điều cần nhất sau khi bom nguyên tử đã chế tạo xong. Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm vài phi trường tại Ấn Độ, hoặc tại vài nơi khác, Mỹ chưa tìm ra được nơi nào có thể đáp ứng được nhu cầu này. Rốt cùng, họ tìm thấy đảo Tinian, nằm bên cạnh đảo Guam, là một địa điểm thuận lợi để thiết lập căn cứ không quân và phi trường quân sự, chuẩn bị cho cuộc chiến. Tuy nhiên Tinian và Guam lúc đó do Nhật chiếm đóng. Để thực hiện kế hoạch, Mỹ phải đánh chiếm Tinian. Khoảng tháng 07.1944, Mỹ mở cuộc không kích và đánh chiếm được đảo Tinian. Sau khi chiếm Tinian, Mỹ thiết kế căn cứ quân sự và phi trường trên đảo. Sử dụng máy bay B-29 trên đảo, Mỹ đã mở được một số không kích phá hoại các cơ xưởng, kho nhiên liệu, tiêu diệt nhân dân tự vệ yểm trợ quân đội Nhật, và làm suy yếu nhiều căn cứ hậu cần Nhật. Mỹ đã sẵn sàng cho cuộc đổ bộ mặt trận Thái Bình Dương, sau khi đánh dẹp Đức và Ý tại mặt trận Âu châu. Video: Vatican’s New World Order