Chuyện kể về địa ngục

0
47

Ni sư Diệu Hân hiện tu tại am Bát Nhã ở 365b/1, đại lộ Nguyễn Văn Linh nối dài, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, TP – HCM.

Cô là một Sa Di Ni hết sức đặc biệt, từ nhỏ đã có thể khai mở mắt âm dương, thấy được rất nhiều loại ma quỷ, từ những vong linh vất vưởng, đến những loại quỷ hình thù kinh dị, dữ tợn, đặc biệt, cô còn được phúc lành diện kiến với các vị Bồ Tát trong siêu hình. Chính nhờ điều đó, cô được học rất nhiều đạo lí quý báu, do chính các vị Bồ Tát chỉ dạy, làm hành trang quan trọng trên con đường tu hành sau này.

Cô trải qua một tuổi thơ hết sức dữ dội. Lớn lên lấy chồng sinh con, nhưng cuộc sống cũng đầy những đau thương. Sau nhiều năm nếm trải đủ mùi vị cay đắng của thế gian, cuối cùng, cô xuất gia, nương nhờ cửa Phật để tìm một con đường giải thoát khỏi những bi ai của nhân thế.

Tuy nhiên, con đường tu hành cũng chẳng hề bằng phẳng, cô gặp phải nhiều thử thách, nhiều sự khinh chê, dè bỉu. Sau này, cô rời khỏi đại chúng trong chùa, về nhà tự cất một cái am nhỏ tu một mình. Và câu truyện đặc biệt li kì, rùng rợn của cuộc đời cô, đã xảy ra trong khoảng thời gian này.

Ngày 1/11/2002 lúc hai giờ sáng, tại am nhỏ của mình, cô đang nằm trên võng thì chợt thấy linh ảnh Đức Phật hiện ra, hào quang rực rỡ, Phật chỉ thẳng tay về phía cô, rồi linh ảnh Phật dần mờ đi. Cô mừng rỡ bật dậy thắp nhang cúng Phật, thì cô nhận thấy mắt mình có chút vấn đề. Hai mắt sụp xuống, mở lên như mọi khi không được, chỉ he hé được một chút.

Qua hôm sau vẫn không khá hơn chút nào, cô đành lần mò ra tiệm thuốc Tây gần đó, cô vẫn nhớ rõ, tiệm thuốc đó tên là Thái Hòa. Dược sĩ khám thì thấy mắt không có bệnh gì. Cô bèn nài nỉ ông bán cho ít thuốc ngủ, về ngủ thật nhiều may ra mắt sẽ trở lại bình thường. Van nài mãi, cuối cùng cô cũng mua được hai viên thuốc ngủ.

Về nhà, cô dặn mọi người để yên để cô ngủ một giấc thật dài, rồi uống thuốc và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, khi đó khoảng mười giờ sáng.

Cô thấy mình lạc vào một khung cảnh đẹp đẽ, cây cối xanh tươi. Có một chiếc cầu rất dài, cô bước lên cầu đi được một lúc, thì cầu đổ sụp xuống, cô té nhào xuống sông.

Cô thấy dòng sông rất đẹp, cô muốn bơi vào bờ, nhưng bơi mãi không vào được. Thật lạ, bờ sông ở ngay đó nhưng bơi mãi không thể tới. Lúc đó,cô cảm thấy chới với, hốt hoảng, và sợ hãi …

Dần dần, dòng nước đó đưa cô ra cửa biển, nước trở nên rất lạnh, buốt thấu tim gan. Cô nhìn quanh thấy không chỉ có mỗi mình mình, mà có đến vô số người khác cũng trôi dạt theo dòng nước vào biển lạnh này, người Tây có, người ta có, Âu có, Á có, già trẻ nam nữ … đều có.

Người cô bị lạnh quá, trở nên cứng đờ ra. Quá sợ hãi, cô nghe thấy một giọng từ trên cao nhắc hãy niệm Phật, cô nghe theo cố hết sức niệm Phật, mãi mới phát âm được chữ “…Phật !… Phật”. Dần dần, niệm được “…A Di Đà Phật!”, rồi đầy đủ câu “ Nam Mô A Di Đà Phật!”, nhờ đó, cô cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Và cô quay sang chụp lấy hai người xung quanh, niệm Phật giúp họ. Lát sau, họ hết lạnh, và một người quay sang nói: “ Cô ơi, con chết đã được mười mấy ngày rồi”, người còn lại cũng nói đã chết hai mấy ngày rồi, và đây chính là biển ngâm người chết trong vòng 49 ngày.

Nghe đến đây, Ni Diệu Hân rụng rời vì nghĩ rằng mình đã chết, cô thấy hết sức đau khổ. Nhưng sau này, cô mới biết thực ra cô xuống đây để chứng kiến cảnh địa ngục, để trở lại nhân gian tường thuật cho người đời biết, chứ cô chưa có chết.

Cứ thế, dòng nước cuối cùng đưa cô tới một cửa biển, người người lớp lớp chìm nổi, dày đặc, đông vô số kể. Nơi đó xuất hiện một tòa thành to lớn, phía sau là núi cao vời vợi không nhìn thấy trời đâu ( trong kinh gọi là núi Thiết Vi)

Cô dạt vào bờ, bước lên tòa thành đó, và kinh hoàng nhận thấy các vị đầu trâu mặt ngựa, các vị quỷ vương… đủ mọi hình thù kinh dị, dữ tợn, vị nào vị đó to lớn khủng khiếp, số lượng đông đảo vô cùng.

Một vị quỷ vương dẫn cô đến một cánh cửa, cánh cửa ấy tự động mở ra, ánh hào quang bừng sáng, và cô nhận thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Chuẩn Đề Bồ Tát, uy nghi ngự trên đài. Lập tức cô cúi đầu quỳ lạy ba vị Bồ Tát.

Sau đó, cô được ba vị Bồ Tát hướng dẫn phát lồ, sám hối các ác nghiệp. Sám hối xong, hai vị quỷ vương dẫn cô vào các địa ngục, bắt đầu chuyến du hành khủng khiếp có một không hai. Cô được biết, mỗi bước chân mà hai vị ấy dẫn mình đi, tương đương với hai ngàn dặm chứ không phải như bước chân bình thường, nghĩa là địa ngục thực sự vô cùng khổng lồ, không dựa vào thần thông của các vị quỷ vương, không thể đi hết.

Cửa ngục đầu tiên mở ra, trên cửa ghi chữ tàu gì đó cô không hiểu, hỏi ra mới biết đó là ngục bất hiếu. Đập vào mắt cô là những chông sắt ghê rợn trên một bàn trông khổng lồ, có hình tròn, số lượng người trên bàn chông đó đông không thể tính kể.

Các quỷ vương đẩy những tội hồn lơ lửng trên không trung, rồi bị các tảng đá từ trên cao đè xuống, cắm phập vào chông sắt to như ngón tay, máu tuôn ra xối xả. Hình phạt đó, cũng như mọi hình phạt khác, cứ lập đi lập lại nối nhau không ngừng.

Chỗ khác, có những bàn băng lạnh, tội hồn nằm, ngồi ngổn ngang trên đó, lạnh thấu xương tủy. Hai vị quỷ vương nói, đó là quả báo do bỏ cha mẹ chịu đói, chịu lạnh. Còn chung toàn ngục này là do 12 loại tội bất hiếu, khi còn sống đã phạm khiến tội hồn phải vào đây chịu khổ, như hỗn xược cha mẹ, phá tiền của cha mẹ, đánh đập, giết cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ đói lạnh…

Tiếp theo, Ni Diệu Hân được dẫn vào địa ngục thứ hai, tên là Vô Gián. Ngục này do phạm 80 tội danh khác nhau mà tội hồn phải vào đây, như mua gian bán lận, cướp đoạt hại người, cho vay nặng lãi, bóc lột người làm công, anh em tranh giành gia tài v.v…

Các hình phạt ở đây rất đa dạng, như đổ nước đồng sôi vào mồm, móc lưỡi kéo ra chặt, hay chặt tay, chặt chân, cho rắn, bò cạp cắn xé, bị quỷ địa ngục đâm lòi ruột kéo ra.v.v… Các tội hồn gào thét kinh hồn. Giả sử mà có máy quay ghi lại, thì không bộ phim kinh dị nào có thể so sánh được, đảm bảo ai xem rồi thì thà chết cũng không dám phạm tội.

Tiếp đến, cô được dẫn vào ngục Đại Thập Ác, các hình cụ rất nhiều, cối xay, đinh đâm, cột đồng lửa.v.v.. Có một vạc dầu cực kì khổng lồ, như một cái hồ lớn, bên trong người người lúc nhúc chìm nổi, gào thét. Tội hồn phải đọa vào đây vì các tội : giết vợ, giết chồng, giết con, phá thai, gian dâm, loạn luân, hành nghề mại dâm, khinh chê, phỉ báng người khác.v.v…

Cô đặc biệt ấn tượng với hình phạt Kim châm, dành cho những người phạm tội châm chích, kích bác, khinh chê lườm nguýt người khác, ăn xén ăn bớt.v.v.. Các tội hồn bị trăm ngàn cây kim sáng loáng, dài khoảng một gang tay, từ hư không hiện ra phóng vào người, xuyên qua từng thớ thịt, cứ thế kim phóng không ngơi nghỉ, thật đáng sợ.

Tiếp đến là Địa ngục Hỏa Thiêu, đâu đâu cũng là lửa cháy rực, dành cho những người làm thầy giáo, cô giáo, học trò phạm tội, như thầy dạy dấu nghề, dạy sai giáo án, không có lương tri, hại trò, trò đánh thầy, giết thầy.v.v…

Tiếp nữa là ngục Thập Nhị Tội Ác, dành cho 12 đại tội gây nguy hiểm cho xã hội, gồm:

1- chạy xe cố ý đâm chết người
2- cai ngục thả tử tù
3- làm tiền giả
4- xây nhà không đúng chất lượng
5- xây cầu đường cẩu thả không đúng chất lượng
6- buôn bán chất nổ
7- buôn bán ma túy, chất gây nghiện
8- đầu cơ phá hoại nền kinh tế
9- quan tòa bao che tội phạm
10- bức hại, tàn sát nhân dân
11- thông đồng ngoại bang hại nước
12- mượn danh quốc gia ép, hại nhân dân.v.v..

Những tội hồn bị vào đây rất khó được thoát ra mà siêu sinh cõi khác. Trong ngục có một biển nước lạnh giá, dưới nước là các quái vật hung dữ, bên trên là đủ thứ hình cụ nhìn lạnh xương sống.

Và, ni sư Diệu Hân rụng rời khi nhận ra người dì họ của cô đang ở trong đó, trong biển người trùng trùng điệp điệp. Bà bị các đầu trâu mặt ngựa kéo thân xác, chặt chém liên tục, máu thịt vương vãi đầm đìa. Nếu cố vùng vẫy bỏ chạy thoát ra, lập tức sẽ bị các hình cụ, móc sắt bên trên ập tới, đâm nát thân. Cô cố gọi người dì, nhưng tội hồn ở đây giống như không có tai, không thể nghe thấy được.

Khi còn sống, vào thời trước giải phóng, người dì này hành nghề buôn bán ma túy từ Campuchia về bán trong nước. Cuộc sống giàu sang, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ …thừa mứa, con cái ăn xài phung phí.

Sau Giải phóng 1975, báo ứng hiện tiền ập đến, gia sản tiêu tán không còn gì, con cái bất hiếu, lưu lạc mỗi đứa một nơi. Ngày bà lìa đời tiền mua cỗ quan tài cũng không có. Nhưng người đời chỉ nhìn được chút ít quả báo đó mà thôi, chứ đâu biết báo ứng còn gấp triệu tỉ lần thê thảm hơn thế ở dưới địa ngục này.

Cô cũng ngạc nhiên nhận ra một người quen khác, đó là ông hàng xóm cũ của cô trên đường Nhật Tảo, TP HCM. Khi còn sống, ông làm chủ một hãng in lớn, thời đó, cô thường chơi thân với con gái thứ hai của ông. Ông vào địa ngục này vì tội in tiền giả. Khi còn sống, ông đã bị bắt và tuyên án tử hình. Chết rồi vào địa ngục này đã hai mươi mấy năm, bị các tảng đá đập nát thân thể, máu me be bét, cực kì khốn khổ, cứ thế đến ngàn muôn kiếp.

Cô muốn ở lại thêm, nhưng các vị quỷ vương đã đẩy cô đi nhanh, đến các ngục khác.

Ngục tiếp theo là Hỏa Ốc ( Nhà lửa), dành cho các bậc tri thức không có lương tâm, như nhà văn viết truyện lệch lạc, y bác sĩ tha hóa, điều chế, buôn bán thuốc giả, in ấn kinh sách sai lệch… Các tội hồn bị quỷ đóng đinh vào đầu, óc máu tung tóe, chết rồi hoàn lại thân xác, tiếp tục đóng đinh. Hoặc bị cột đá rơi từ trên cao xuống giã xác thân tan nát, như người ta dùng chày giã cua vậy. Hoặc bị quỷ dữ móc ruột, móc họng rồi ăn nuốt một cách rùng rợn… cứ thế nối tiếp không biết đến khi nào thôi.

Tiếp đến, hai vị quỷ vương đưa cô đến ngục Hỏa Ưng, thuộc Đại địa ngục A Tỳ, dành cho những cư sĩ, những người hủy báng Tam Bảo, lạm dụng, trộm cướp của Thường Trụ, lấn quyền điều hành trong chùa, khinh chê, bức hại bậc chân tu, Tăng Ni, Phật tử; đánh đập, chửi rủa Bồ Tát hiện tiền, phá hủy tượng Phật, chùa chiền, hành dâm trong chùa, lợi dụng Tam Bảo để buôn bán cắt cổ.v.v… với những đủ thứ hình phạt như ăn giòi, sói lửa cắn xé, quả cầu lửa thiêu đốt, chim ưng mổ mắt.v.v…

Đặc biệt, có những con chim đại bàng khổng lồ, một cái móng vuốt cũng to gấp mấy lần cái bàn tay con người, nhìn thôi là lạnh xương sống, chúng bay xà xuống chụp đầu các tội hồn, móc mắt, xé xác… Rồi có những con quỷ to lớn, lông lá xồm xoàm, mắt to như quả cam, hung tợn xé xác tội hồn ăn thịt.

Hai vị quỷ vương chỉ một tội hồn cho cô xem, khi còn sống, bà tên là Diệu Tích, là Phật tử một chùa lớn ở Sài Gòn. Năm 1972, bà nắm được chút quyền lực trong chùa, thường chửi mắng Hòa thượng, đánh đập tăng ni, gây sự với các Phật tử công quả khiến ai ai cũng sợ khiếp vía. Vào ngục A Tỳ này rồi, bà bị chó xé xác, bị giòi đục khoét, bị lửa cháy thiêu đốt liên tục, gào thét đau đớn.

Ngục kế tiếp cô được dẫn tới, tên là Đại A Tỳ. Đúng như tên gọi, ngục này lớn hơn nhiều các ngục khác, mang một vẻ âm u, rùng rợn khó tả. Ngục này dành cho những thầy tu của các tôn giáo khác nhau, như Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, và nhiều các tôn giáo nhỏ, giáo phái tự xưng, các tà đạo, yêu mị của dân tộc thiểu số khác, do núp bóng Tôn giáo mà làm chuyện xằng bậy nên phải vào đây. Gồm hàng trăm thứ tội khác nhau, như đánh mắng bậc chân tu, lạm dụng tài vật của Tam Bảo, phá giới, tu không giới hạnh, đưa người nhà vào nắm quyền trong chùa, giả danh người xuất gia chuộc lợi, xây chùa giả chuộc lợi, giảng sai chánh pháp, mê hoặc người đời vào tà đạo.v.v…

Cô được các vị quỷ vương chỉ cho một ông sư đã lên chức Thượng tọa, khoảng hơn bảy chục tuổi, mặc áo màu vàng, đang ngồi trên bàn chông, bị chó cắn xé tay chân, trên đầu thì quạ mổ mắt, máu me đầm đìa, ghê sợ.

Ông này đi tu từ nhỏ. Lớn lên được bậc tiền nhiệm giao cho làm trụ trì một chùa ở Sài Gòn. Ông là người thông minh, có học thức về Phật Pháp, thông thạo kinh sách, được tín chúng Phật tử kính ngưỡng, cúng dường rất nhiều, khiến ông sinh tâm kiêu mạn. Ông khinh thường các bậc tu hành khác, thường lấy tiền cúng dường để tư lợi riêng khiến đại chúng trong chùa bị thiếu hụt. Sau này ông còn lấy tiền đó mua nhà cho họ hàng đứng tên. Vì tội như thế, ông bị giảm 15 năm tuổi thọ, bị Hành Bệnh quỷ vương dày vò bằng bệnh tật, liệt giường liệt chiếu cho đến khi chết. Chết rồi bị đưa vào đây muôn vàn thống khổ.

Các vị quỷ vương còn chỉ thêm hai chú cháu cùng nối tiếp nhau làm trụ trì một chùa khu Chợ Lớn, thường lấy tiền chùa tiêu xài việc tư, đưa cha mẹ vào chùa bắt tăng ni phục vụ, và nhiều tội khác. Bây giờ, họ có hình thù kì dị, cổ nhỏ bụng to, mang gông xiềng xích, bị quỷ sứ đổ nước đồng sôi lên người, đau đớn khôn xiết.

Chuẩn bị rời khỏi ngục này, chợt có năm vị quỷ vương hiện đến chặn ni sư Diệu Hân lại. Họ tuyên bố chính cô sẽ phải chịu hình phạt trong ngục này, vì những tội mà cô đã gây ra trước kia. Nghe tới đây, cô giật mình kinh sợ. Các tội danh của cô phải chịu hình phạt gồm: chê sư phụ không có đạo hạnh, phá thai, ăn trộm gà về giết thịt, làm chứng người khác gian dâm, khiến vợ chồng bỏ nhau, chê bai đại chúng xuất gia, không chịu về chùa nhập chúng tu hành.

Cô hết sức bất ngờ, không thể lường được chính mình cũng sẽ phải thọ hình nơi đây. Rất nhanh chóng, các vị quỷ vương đưa cô đến chảo dầu. Nó rất to lớn, chứa được muôn vạn người chứ không phải cái chảo nấu bếp ta thường thấy, dầu trong chảo sôi sùng sục, độ nóng khủng khiếp.

Các vị quỷ vương thảy cô vào chảo dầu. Vì đã chuẩn bị trước, cô lập tức niệm Phật liên tục. Thật vi diệu, dù xung quanh là dầu sôi sùng sục, nhưng cô không thấy đau đớn gì hết. Tưởng như thế là đã thoát nạn, nhưng không.

Một vị quỷ vương lôi cô ra, ấn tay vào cổ ni sư Diệu Hân, đọc thần chú khóa khẩu, không cho cô có thể niệm Phật được nữa. Có lẽ vì họ muốn cô nếm mùi đau đớn của cực hình, sau này mới nghiêm trì giới hạnh được. Đọc chú xong, họ thảy cô lại vào chảo dầu sôi với độ nóng ghê hồn.

Lần này thì không tài nào niệm Phật được nữa, cô phải hứng chịu cái đau đớn tột độ, nó nhức buốt tới tận xương tủy. Cái nóng khiếp đảm của chảo dầu sôi sùng sục, như kim châm vào từng thớ thịt, như xé tan thân xác, lời lẽ khó tài nào miêu tả được. Cứ như thế suốt hai canh giờ ( tức 4 tiếng đồng hồ), cô chìm nổi, giãy giụa trong chảo dầu kinh hồn ấy.

Xong xuôi, cô được đưa ra. Một vị tên Ác Độc quỷ vương với bàn tay to lớn, xương xẩu, ghê rợn bắt đầu thực thi hình phạt tiếp theo với cô. Vị đó tát vào mặt cô từng nhát, từng nhát một, tát đến đâu, máu thịt tuôn ra đến đó. Cứ thế kéo dài một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ).

Tiếp đến, các vị quỷ vương đem ra một rổ đầu gà rất lớn, banh miệng ni sư Diệu Hân ra, nhồi từng cái, nhét từng cái đầu gà vào họng cô. Cảm giác đau đớn như rách toạc cổ họng. Cô trợn mắt hứng chịu cực hình ấy cho đến khi nuốt trọn hết thúng đầu gà. Rồi lại bị quỷ vương vỗ đầu cho ói ra hết, xương gà, mỏ gà móc vào họng. Lúc nhét vào thì đỡ đau hơn, nhưng khi ói ra thì đau đớn tăng gấp trăm lần, cô cảm thấy thống khổ ghê gớm, nước mắt đầm đìa.

Hình phạt này kéo dài khoảng một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ), đây là do khi trước, cô hay mua đầu gà về cho con ăn.

Chịu xong các hình phạt đó rồi, cô lại được dẫn đi đến các ngục khác. Có một ngục tên là “ Sơn hà xã tắc” có lẽ dành cho những quan chức, những những lãnh đạo đất nước phạm tội phải vào đây. Nhưng cô không được cho vào xem, mà đi qua các ngục khác.

Có một ngục tên là ngục Ăn Giòi, dành cho người đổ bỏ thức ăn, khinh chê người phục vụ, ngang ngược, hống hách… tội hồn bị triệu triệu con giòi rúc rỉa, hoặc có người phải bốc những con giòi đó cho vào mồn ăn, nhìn nổi hết da gà.

Có một ngục tên là Tham Lợi, dành cho những người bóc lột sức lao động của cấp dưới, tham lam, ăn bớt tiền công.v.v… Họ vào đây bị bắt ăn toàn là sỏi đá, hoặc tệ hơn, bắt ăn những sắt nóng đỏ, đau đớn gào khóc.

Lại một ngục khác tên là Sát Sinh, tội hồn ở đây, khi còn sống, giết con vật bằng cách nào, thì bị quỷ hành hình bằng đúng cách đó. Ví như lấy búa đập đầu trâu, thì bị quỷ đập nát đầu bằng búa. Hay khi xưa dùng dao cắt cổ gà, thì giờ cũng bị quỷ dùng dao cắt cổ lại. Cứ thế nên trong ngục này hình cụ đủ muôn nghìn loại khác nhau.

Rồi có một ngục hành hình bằng cột đồng cháy rực, cùng chảo dầu sôi, dành cho những kẻ tà dâm, ngoại tình, mua bán dâm, buôn bán phụ nữ làm gái lầu xanh, truyền bá dâm dục.v.v…

Lại có ngục tội hồn bị quỷ xé miệng, cắt lưỡi, chọc sắt nóng vào mồm.v.v… vì tội khinh chê dè bỉu, ăn không nói có, thị phi nhiều chuyện, chửi mắng hỗn xược…

Ngoài ra còn rất nhiều ngục khác, dành cho đủ hạng người trong xã hội tạo ác, từ dân đầu đường xó chợ, đâm thuê chém mướn mạt hạng, đến tầng lớp tri thức như luật sư, giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ, nhà văn, diễn viên… Tội danh thì muôn trùng sai khác, tội tày trời có, tội tầm thường có, nặng có, nhẹ có, ứng với mỗi tội lại hiện ra các thứ hình phạt khác nhau, mỗi mỗi đều cực kì đau đớn, rùng rợn.

Tội hồn ngục nào cũng thế, đâu đâu cũng máu me đầm đìa, xương thịt vương vãi, gào thét kinh hồn, đau đớn khôn xiết… Cứ chết đi lại hoàn lại hình hài cũ, tiếp tục hình phạt nối nhau. Một ngày một đêm, chết đi sống lại nghìn muôn lần thống khổ.

Sau khi đi qua các Địa ngục rồi, cô được đưa đến một khu tập hợp vong linh rất đông đúc, người người lớp lớp đứng hồi hộp chờ đợi. Nếu vẫn còn dư báo, thì bị các quỷ vương đọc thần chú biến hình thành các loại súc sinh, như thành gà, trâu, chó, rắn, rết.v.v… cho vào bao đưa đi đầu thai làm kiếp súc sinh, tiếp tục đền trả nợ cũ.

Nếu nghiệp nhẹ hơn thì được tái sinh làm người nghèo đói, tàn tật, hèn hạ…Họ phải đi qua một cây cầu bằng trúc, gặp một người phụ nữ rất đẹp (có lẽ là Mạnh Bà). Bà cho từng vong linh uống một thứ nước gì đó, rồi mới đưa đi đầu thai làm người.

Cuối cùng, các quỷ vương đưa cô trở lại chỗ ban đầu, diện kiến, cung kính đảnh lễ ba vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Chuẩn Đề Bồ Tát. Đảnh lễ xong, các vị Bồ Tát bảo cô hãy niệm Phật. Cô liền làm theo, thì thấy mình bay bổng lên không trung, trở lại thế gian, nhập vào xác, lúc đó là 12 giờ trưa, kết thúc chuyến đi với những trải nghiệm rùng rợn, kinh hoàng nơi Địa Ngục.
_______________

Địa Ngục là một danh từ có mặt trong từ điển của mọi quốc gia Đông sang Tây, Âu đến Á. Từ những nền văn minh lớn, đến những lời truyền miệng của những dân tộc thiểu số khắp thế giới, từ những tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, đến các tín ngưỡng nhỏ lẻ ở mọi đất nước, đâu đâu cũng đề cập đến địa ngục.

Nếu như địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, một biểu tượng mang tính chất tượng trưng thôi, tại sao Đông Tây kim cổ, ngàn xưa tới giờ, ở khắp nơi trên thế giới, dù bị địa lí, bị các đại dương ngăn cách, con người lại có thể tưởng tưởng ra cùng một thứ giống nhau như vậy ?

Câu trả lời rất đơn giản, vì địa ngục là có thật. Vì đó là sự thật, nên ở mọi nơi đều xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của địa ngục. Các bậc trí giả ở mọi nền Văn minh đều xác quyết đó là sự thật, thậm chí mô tả tỉ mỉ về địa ngục.

Ấy thế từ xưa đến nay, luôn có rất nhiều người cho rằng địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nhằm răn đe là chính, chứ không phải sự thật. Để rồi họ mặc sức xuôi theo dục vọng mà làm đủ thứ tội ác lớn nhỏ, vì cho rằng chết là hết, sẽ chẳng có hình phạt gì cho những tội lỗi của họ. Đâu biết được rằng, phía sau cái chết là địa ngục với quỷ dữ, với đao kiếm, với lửa cháy dầu sôi, cùng đủ thứ quả báo kinh khủng đang chờ đợi họ.

Nếu ngay từ đầu, họ thức tỉnh sớm, bằng trí tuệ hay bằng niềm tin cũng được, nhận ra một chân lí rằng, Địa ngục là sự thật, Báo ứng là sự thật, mà nói ‘không’ với các tội lỗi và sự sa đọa. Thế thì đâu đến mức phải có đến triệu triệu, tỉ tỉ vong linh bị đầy đọa trong dầu sôi, trong lửa cháy, trong núi dao, rừng kiếm, gào thét đau đớn, ngàn vạn năm không biết khi nào thoát ra.

Hi vọng câu chuyện này, không nhiều thì ít, sẽ giúp cho thế nhân thoát khỏi những tà kiến phủ nhận Báo ứng, chối bỏ Địa ngục, tìm lại được sự thực, sáng lên được một chút chân lí, mà sớm dập tắt được ngọn lửa đau khổ, đã và đang nhen nhúm trong từng hành vi của chính mình.

Quang Tử, biên tập từ bài giảng của ni sư Diệu Hân